Lạy Chúa Con | Tin Tức Công Giáo|Suy Niệm |Lời Chúa Hằng Ngày

Lạy Chúa 
sau những ngày vui chơi lễ lạc 
sau những ồn ào nhộn nhịp với đám đông 
con lại trở về với cuộc sống của riêng con 
với những khoảng trống cô liêu và thanh vắng 

Con lại trở về với nhịp sống có nhiều khoảng lặng 
để chìm vào giữa tất bật vòng xoay 
của bổn phận và trách nhiệm 
của những lo toan cố hữu và bao chuyện phải làm 
của một dòng chảy rất bình thường và đều đặn đến 
độ dễ khiến con thấy tẻ nhạt và nhàm chán…
Cả cuộc đời con cứ như một đốm lửa muốn bùng cháy lên với bao khát vọng, 
nhưng lại thiếu cái sức bền bỉ và đều đặn 
để có thể sống quân bình và trầm ổn 
giữa cuộc sống vốn dĩ rất liên tục và bình dị tự nhiên. 
Vậy nên trong con có rất nhiều dở dang
chưa kịp bùng cháy thì đã lụi tàn 
chưa kịp thành hình thì đã cạn cùng đổ vỡ. 

Tạ ơn Chúa đã cho con những ngày lễ 
để cuộc sống con được thăng hoa và được thánh hóa 
bởi nhiều dấu nhấn đặc biệt trong nhịp chảy thời gian. 
Xin dạy con sống trọn vẹn niềm vui 
giữa những gì đã qua đi và những gì còn đọng lại.
Chỉ những niềm vui có chiều sâu, thì mới có chiều dài 
đủ để làm thăng hoa cuộc sống thường ngày của con, 
chỉ những xác tín có chiều dài, thì mới có độ mạnh 
đủ để đẩy con hăng say băng mình về phía trước 

Giữa bao điều bình dị đơn sơ của cuộc sống xin cho con luôn gặp được Chúa, là niềm vui trường tồn bền vững của đời con. 

 Cao Gia An, S.J.
(Theo Dòng Tên)

Ngày 26 tháng Bảy 2015, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chính thức khai trương việc ghi danh tham dự Ngày Giới trẻ Thế giới – sẽ khai mạc vào đúng ngày này năm sau tại Krakow, Ba Lan (từ ngày 26 đến 31tháng Bảy 2016).



Ngày 26 tháng Bảy 2015, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chính thức khai trương việc ghi danh tham dự Ngày Giới trẻ Thế giới – sẽ khai mạc vào đúng ngày này năm sau tại Krakow, Ba Lan (từ ngày 26 đến 31tháng Bảy 2016).

Từ cửa sổ của Dinh Tông toà, với hai bạn trẻ đứng hai bên – một nam một nữ, mặc chiếc áo thun có in biểu tượng của Ngày Giới trẻ Thế giới–, Đức Thánh Cha nói: “Hôm nay bắt đầu giai đoạn ghi danh tham dự Ngày Giới trẻ Thế giới lần thứ 31 – sẽ được tổ chức vào năm tới tại Ba Lan. Để đánh dấu sự kiện này, tôi muốn mời hai bạn trẻ đến đứng cạnh tôiđây”.

Sau đó Đức Thánh Cha đã nhấn vào một nút trên màn hình của chiếc máy tính bảng để xác nhận việc ghi danh. Đức Thánh Cha nói: “Tôi đã ghi danh làm người hành hương của Ngày Giới trẻ Thế giới. Được cử hành trong Năm Thánh Lòng Thương xót, theo một ý nghĩa nào đó, sự kiện này sẽ là Năm Thánh Lòng Thương xót của giới trẻ, mời gọi suy tưvề chủ đề “Phúc thay ai có lòng thương xót, vì người ấy sẽ được xót thương” (Mt 5,7). Tôi mời các bạn trẻ trên khắpthế giới hãy sống cuộc hành hương này, hoặc bằng cách đến Krakow, hoặc bằng cách tham gia thời điểm ân phúc ấytrong cộng đoàn của mình”.

Buổi tối 28-07-2016 giới trẻ sẽ chào đón Đức Thánh Cha tại Krakow. Các thì mạnh của cuộc quy tụ giới trẻ lớn lao nàysẽ là Chặng Đàng Thánh Giá vào ngày 29-07, Đêm canh thức 30-07 và Thánh lễ bế mạc vào ngày 31-07.
 
Minh Đức

 

Tăng cường đàn áp tôn giáo ở Trung quốc đang ném một đám mây che phủ trên chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch Trung quốc Tập Cận Bình dự kiến vào tháng 9 tới.

Hôm qua, 24 tháng 7, một ủy ban quốc hội nghe lời khai về sự đàn áp những tín đồ Trung quốc và các luật sư bảo vệ cho họ.

Mục sư Bob Fu, Chủ tịch Viện trợ Trung quốc có trụ sở ở Hoa Kỳ, cho biết thánh giá của hơn 1500 nhà thờ Trung Quốc bị phá hủy, cùng với các mục tử và tín đồ bị đánh đập và luật sư của họ bị cầm tù.

Hoa hậu Thế giới Canada Anastasia Lin, người sinh ra ở Trung quốc, đã làm chứng rằng hàng chục ngàn học viên Pháp Luân Công đã bị giết để các quan chức Trung quốc có thể mổ lấy nội tạng của họ và bán để cấy ghép.

Dân biểu Chris Smith, New Jersey, nói rằng, với Phật giáo Tây Tạng và Hồi giáo Trung quốc cũng đang bị bách hại, các vấn đề đàn áp tôn giáo phải được giải quyết trong chuyến thăm Hoa Kỳ của ông Tập Cận Bình sắp tới. Ông còn nói thêm, “Chúng ta phải đặt câu hỏi liệu hội nghị thượng đỉnh này có nên diễn ra không.”

Jos. Tú Nạc, NMS
Hình Ảnh Thánh lễ cầu nguyện cho công lý và hòa bình tại Giáo xứ Thái Hà (Nguyễn Lương Bằng, Đống Đa, Hà Nội) tối ngày 26.7.2015.
"Trước tình trạng bạo lực ngày càng gia tăng trong xã hội - cái chết mới đây của 6 nạn nhân trong một gia đình tại Bình Phước hay cái chết của 4 người trong một gia đình tại Nghệ An là ví dụ; trước những mưu mô dùng người Campuchia đẩy cao xung đột của chính quyền Bắc Kinh tại Biên giới Tây Nam của tổ quốc, ẩn chứa nguy cơ bạo lực có thể bùng vỡ bất cứ lúc nào, giáo xứ Thái Hà đã tổ chức thánh lễ cầu nguyện cho xã hội Việt Nam được an lành, cho Đất nước, quê hương được hưởng một nền hoà bình đích thực, chấm dứt mọi thứ bạo lực đang làm băng hoại xã hội."










Ảnh: Nguyễn Lân Thắng.
Từ ngày 22-24/07 vừa qua, anh em Dòng Tên đang phục vụ khắp mọi miền đất nước và một số sứ mạng quốc tế đã quy tụ tại hội trường Học viện Dòng Tên – Thủ Đức để tham dự 3 ngày thường huấn với chủ đề: “Huấn luyện một con tim biết phân định – Phút Hồi Tâm.”
dongten2015.jpg

Đề tài năm nay được gợi hứng từ tác phẩm Hearts Burning (Con tim bừng cháy) của linh mục Ramon Bautista, SJ. Cha Bautista nguyên là giáo tập của Tỉnh Dòng Philippines. Ngài làm giáo tập khoảng 13 năm (2000-2013), sau đó làm phụ tá giáo tập Năm Ba cho đến nay. Ngài có bằng tiến sĩ về Linh Đạo tại trường Heythrop bên Anh. Trước đó ngài lấy bằng STL tại Trường thần học Dòng Tên ở Berkely, Hoa Kỳ và bằng MA về linh đạo tại LST Manila.

Cuốn sách của cha Bautista nghiên cứu về một phương pháp cầu nguyện của thánh Inhaxio được gọi là phút hồi tâm – xét mình chung (general examen). Cách cụ thể, đây là một nghiên cứu về phút hồi tâm xét như một phương thế huấn luyện đích thực theo thánh Inhaxio để huấn luyện một tình yêu có phân định.
Khóa thường huấn năm nay do Ban Linh đạo Tỉnh Dòng chủ trì. Các đề tài trong khóa thường huấn này lần lượt là:

  • Giới thiệu đề tài, nội dung thường huấn: Huấn luyện một con tim biết phân định: Cha JB Nguyễn Trung Kiên, SJ
  • Lý tưởng Linh đạo tông đồ của thánh Inhaxiô: Cha Tôma Vũ Quang Trung, SJ
  • Phút Hồi tâm trong bối cảnh Linh đạo thánh Inhaxiô: Cha Giuse Nguyễn Văn Lộc, SJ
  • Phương pháp thực hành Phút Hồi tâm: Cha Phêrô Ngô Phan Đình Phục, SJ
  • Phút hồi tâm và việc phân định theo thánh Inhaxiô: Cha Giuse Trần Sỹ Nghị, SJ
  • Kết luận – thực hành: Cha Tôma Vũ Ngọc Tín, SJ

Sau các bài thuyết trình là phần thảo luận nhóm dựa theo những câu hỏi mà thuyết trình viên đưa ra.

Sau đó, đại diện các nhóm lên báo cáo về nội dung thảo luận của nhóm mình.

  
(Chỉnh Trần, SJ, dongten.net 26.07.2015)
Các bạn thân mến,
Ignatius.jpg

Chúng ta biết gì về thánh I-nhã ? Một người thuộc dòng dõi quý phái ở vùng bắc nước Tây Ban Nha, sinh năm 1491, cách đây hơn năm thế kỷ. Một người đã ở lại với Giáo Hội khi Giáo Hội xuống dốc, đã góp phần củng cố và làm đẹp khuôn mặt Giáo Hội khi Giáo Hội gặp khủng hoảng. Đối với các bạn, I-nhã còn là một người bạn gần gũi, vì ngài đã sống như một sinh viên, với tất cả những khó khăn mà chính các bạn từng gặp. Ký túc xá của ngài là bệnh viện dành cho người nghèo, ngài phải đi ăn xin để sống và học. Trong phút suy niệm này, chúng ta nhìn lại vài nét của đời ngài, hy vọng chúng ta hiểu ngài hơn, yêu ngài hơn và sống theo tinh thần của ngài. TẤT CẢ CHO VINH DANH CHÚA HƠN.

I-NHÃ TẬP NHẬN ĐỊNH Ý CHÚA 

I-nhã trở thành sinh viên khi đã hơn ba mươi tuổi. Đó là một I-nhã đã trở lại vài năm trước đó, một I-nhã đã từ bỏ những đam mê tự nhiên của mình: thích tiếng tăm lừng lẫy, thích những chiến thắng vẻ vang ngoài trận địa, thích chinh phục một tiểu thư xinh đẹp, quý phái. I-nhã sinh viên là một I-nhã anh dũng, đã từng suýt chết vì trái đạn đại bác của quân Pháp. Trái đạn này làm I-nhã bị gãy chân, đành phải dừng chân. Chính trong thời gian dưỡng bệnh, vì trong nhà không có truyện kiếm hiệp, I-nhã phải đọc Truyện các Thánh và Cuộc đời Đức Giêsu. Ai ngờ Thiên Chúa lại dùng những cuốn sách đạo đức này để tìm cho mình một chiến sĩ trong lúc Hội Thánh lâm nguy.

I-nhã trên giường bệnh là một I-nhã tập tễnh bước vào đời sống thiêng liêng. Kinh nghiệm thiêng liêng đầu đời của I-nhã rất đơn sơ, được ngài kể lại như sau: “Khi đọc những sách này, tôi thấy thích những điều được kể lại trong đó. Tôi thường dừng lại, nghiền ngẫm điều mình đã đọc. Cũng có khi tôi lại nghĩ đến những sự thế gian mà trước đây tôi mải mê theo đuổi. Trong số nhiều điều phù phiếm, có một điều xâm chiếm tâm trí tôi đến nỗi tôi nghĩ đến nó hai, ba, thậm chí bốn tiếng đồng hồ mà không hay. Tôi tưởng tượng xem mình phải làm gì để phục vụ cô tiểu thư ấy, đến nước cô ấy đang sống bằng cách nào, hứa hẹn và làm thơ tặng cô, cùng những cử chỉ ga lăng để chinh phục cô tiểu thư đài các ấy.”

Như thế trên giường bệnh, I-nhã bị chi phối bởi hai luồng tư tưởng trái ngược. Một mặt ngài khao khát bắt chước các thánh: “Thánh Đa-minh, thánh Phan-xi-cô đã làm điều này, nên tôi cũng phải làm như vậy.” Mặt khác ngài lại bị cuốn hút bởi những tư tưởng trần tục, tự nhiên. Cái hay của I-nhã là đã nhận ra sự khác biệt. “Khi nghĩ đến những sự thế gian, tôi thấy vui, nhưng sau khi mệt quá không nghĩ nữa, tôi lại thấy khô khan và không thỏa mãn. Còn khi nghĩ đến chuyến đi Đất Thánh bằng chân không, chỉ ăn rau cỏ và hành xác như các thánh, thì tôi chẳng những thấy vui lúc đó, mà cả sau này cũng thấy hân hoan và mãn nguyện.” Dần dần I-nhã khám phá thấy mình đã chịu tác động, một do ác thần, một do Thiên Chúa. Đây là kinh nghiệm nhận định đầu tiên của I-nhã, mở đường cho những kinh nghiệm khác tinh tế hơn sau này.

I-nhã sinh viên không phải là một I-nhã ngây thơ, nhưng là một người đã trải qua những kinh nghiệm thiêng liêng phi thường trong thời gian gần một năm sống tại vùng Manresa. Ngài được nhiều thị kiến và nhất là được ơn khải ngộ khi đang cầu nguyện bên bờ sông Cardoner. Đây cũng là thời gian I-nhã chịu tác động của thần dữ. Ngài có lúc đã chán nản đến mức muốn tự tử. I-nhã kể cho chúng ta nghe một kỷ niệm về nhận định ý Chúa trong thời sinh viên. “Sau khi đi viếng Đất Thánh trở về, tôi trở lại Barcelona và bắt đầu học hành chăm chỉ. Nhưng có một điều gây cản trở cho tôi, đó là mỗi khi tôi cần phải học thuộc bài thì tôi lại nhận được những ánh sáng mới và niềm vui mới về các điều thiêng liêng đạo đức. Những niềm vui này mạnh đến nỗi tôi chẳng tài nào nhớ được gì và tôi cũng không sao gạt chúng đi được, dù đã cố gắng nhiều.” Dần dần I-nhã mới nhận ra đó là một cơn cám dỗ, vì ngay cả lúc cầu nguyện hay dự thánh lễ, các ánh sáng này cũng không mạnh đến như vậy. I-nhã đã thắng được cơn cám dỗ này bằng cách đi gặp vị giáo sư của mình trong một ngôi nhà thờ, kể hết những khó khăn đang xảy ra cho mình và cho vị ấy biết đâu là nguyên nhân. Sau cùng I-nhã còn hứa sẽ học hành nghiêm túc hơn. Từ đó trở đi I-nhã được giải phóng.

Nhận định để tìm ý Chúa là điều các bạn trẻ rất quan tâm. Chúng ta luôn chịu ảnh hưởng của Thiên Chúa và ác thần trong cuộc sống. Làm sao nhận ra đâu là cám dỗ của ác thần, đâu là lôi kéo của Chúa? Ác thần vẫn giả dạng thiên thần để đến với ta. Nếu chúng ta sống trong sạch và cầu nguyện, cũng như bàn hỏi những người có kinh nghiệm, nếu chúng ta thực sự khao khát tìm ý Chúa để thi hành, thì thế nào chúng ta cũng tìm thấy ý Chúa, bởi vì Chúa rất thích cho chúng ta biết ý Ngài.

I-NHÃ HỌC TẬP VÀ CẦU NGUYỆN 

st-ignatius.jpg  
Các bạn thân mến, trên ba mươi tuổi, I-nhã lại làm bạn với sách đèn. Khi không được ở lại truyền giáo nơi Thánh Địa Giêrusalem, I-nhã nghĩ ngay đến việc đi học. Học để “giúp đỡ các linh hồn”, không học thì không được nói về Chúa cho người khác trong thời buổi mà Giáo Hội đang hết sức nghi ngờ những người lạc giáo. I-nhã sinh viên đã có kinh nghiệm thấm thía về chuyện này. Ngài đã bị các cha Đa-minh bỏ tù, bị xiềng chân và bị cấm không được phân biệt tội trọng, tội nhẹ cho đến khi nào học đủ bốn năm nữa. Như thế, I-nhã đi học vì mục đích tông đồ. Bằng cấp là giấy thông hành cho phép I-nhã phục vụ Dân Chúa. Việc học chỉ là phương tiện, nhưng là phương tiện cần thiết. I-nhã đã học tập nghiêm túc, đến nỗi những gì gây cản trở cho việc học, ngài coi đó là ngược với ý Chúa.

Hôm nay chúng ta được mời gọi coi tri thức là hành trang để phục vụ, bằng cấp là giấy phép để phục vụ, chỗ làm việc là nơi để phục vụ. Chúng ta mong hành trang của mình dày hơn để phục vụ tốt hơn. Chúng ta đổi chỗ làm không chỉ vì muốn tiến thân, nhưng chủ yếu vì muốn phục vụ cho lợi ích lớn lao hơn cho con người. Khi coi tất cả những gì mình nhận được là quà tặng và muốn chia sẻ lại cho người khác, chúng ta sẽ được giải phóng khỏi những tính toán vụ lợi và những lo lắng ích kỷ, để sống trong thanh thản, bình an.

Trong thời gian học tập, I-nhã ít gặp ơn an ủi khi cầu nguyện. Ngài biết việc học đòi hỏi sự tập trung của cả con người. Hồi còn ở Manresa, ngài cầu nguyện mỗi ngày 7 tiếng. Dĩ nhiên thời sinh viên, ngài phải rút ngắn giờ cầu nguyện lại để có giờ học. Sau này khi đã về già, trong một lá thư, I-nhã đưa ra một lời khuyên đặc biệt cho những người đang bận bịu chuyện học hành. “Họ phải tập tìm kiếm sự hiện diện của Thiên Chúa trong mọi sự, trong những lúc trò chuyện hay đi chơi với nhau, trong tất cả những gì họ thấy, họ nếm, họ hiểu, trong mọi việc họ làm, bởi vì chính Chúa uy linh thực sự ở trong mọi sự bằng sự hiện diện, quyền năng và yếu tính (essence) của Ngài. Kiểu suy niệm bằng cách tìm thấy Chúa trong mọi sự thì dễ dàng hơn là việc nâng tâm hồn lên để suy ngẫm những chân lý trừu tượng về Chúa, đòi hỏi nhiều cố gắng nếu ta muốn tập trung. Những phương pháp này là cách thức tuyệt vời chuẩn bị ta đón nhận Chúa đến thăm ta, cả trong những giờ cầu nguyện ngắn ngủi.” 

“Tìm thấy Chúa trong mọi sự” là đỉnh cao của linh đạo I-nhã. Một năm trước khi qua đời, I-nhã cho biết mình tìm thấy Thiên Chúa dễ dàng hơn bao giờ hết. “Bất cứ khi nào tôi mong muốn, vào bất cứ giờ nào, tôi đều có thể tìm thấy Thiên Chúa” (Sách Tự Thuật, số 99). Câu này cho thấy đời sống thiêng liêng của một bậc thánh nhân.

Hôm nay nếu bạn có thể gặp được Thiên Chúa nơi giảng đường, nơi bạn bè, nơi ký túc xá, nơi nhóm, nơi nhà thờ, nơi gia đình; nếu bạn luôn thấy Chúa đi với bạn trong từng biến cố của cuộc đời, ở bên bạn trong đêm đen và giông bão; nếu bạn thấy mọi sự chẳng có gì là ngẫu nhiên hay tình cờ nhưng đều là quà tặng của tình yêu Thiên Chúa, dù nhiều khi bạn không hiểu nổi và không muốn chấp nhận; nếu bạn tin Thiên Chúa là nhà giáo luôn uốn nắn bạn qua những biến cố, để bạn trở nên cứng cáp và trưởng thành; vâng, nếu được như vậy, bạn đã là người thấm nhuần linh đạo I-nhã. Lúc đó dưới mắt bạn, cả cuộc đời muôn màu muôn vẻ này sẽ trở nên nơi Thiên Chúa tỏ mình. Lúc nào bạn cũng nghe thấy Ngài nói với bạn qua các biến cố của đời bạn và của thế giới.

I-NHÃ LÀM VIỆC TÔNG ĐỒ 

Thời sinh viên, I-nhã không chỉ học và cầu nguyện. Ngài còn chú tâm làm việc tông đồ, và đã gặp nhiều khó khăn với giáo quyền. Chúng ta không nên quên lúc đầu I-nhã cũng chưa thấy rõ ơn gọi của mình. Ngài quyết định đi học nhưng chưa rõ khi học xong sẽ vào một Dòng nào đó hay cứ tiếp tục đi khắp thế giới để nói về Chúa. Dần dần I-nhã mới khám phá ra ơn gọi linh mục của mình. Nhưng khi còn là một sinh viên giáo dân, với bề dày của đời sống thiêng liêng, I-nhã đã say mê với việc dạy giáo lý, đặc biệt cho trẻ nhỏ. Dạy giáo lý cho trẻ em và người ít học sau này đã trở thành lời hứa của các cha Dòng Tên khi khấn trọng.

Ngoài ra I-nhã còn cải hóa lòng người bằng những cuộc chuyện trò mang tính thiêng liêng. Chuyện trò, đối thoại với người khác là hình thức đặc biệt được I-nhã ưa chuộng. Chính I-nhã cho thấy điều đó khi ngài bị thẩm vấn bởi một vị chức sắc trong Giáo Hội ở Salamanca: “Vậy các anh giảng gì?” — “Chúng tôi không giảng, chúng tôi chỉ nói một cách thân mật về những chuyện thiêng liêng với một nhóm nhỏ, nói sau bữa ăn với những người mời chúng tôi.” — “Chúng tôi muốn biết nội dung những chuyện các anh nói về Chúa.” — “Lúc thì chúng tôi nói về nhân đức này, lúc thì nhân đức nọ, để ca ngợi. Có những lúc chúng tôi nói về tật xấu này hay tật xấu nọ để lên án.” Như thế I-nhã đã dùng bầu khí thân mật của bữa ăn mà chuyện trò với mọi người, để giúp họ thay đổi cuộc sống. I-nhã sinh viên chẳng phải là linh mục hay tu sĩ, chẳng được giảng ở nhà thờ, nhưng qua những cuộc gặp gỡ cá nhân, I-nhã mong ước chia sẻ kinh nghiệm của mình để “giúp đỡ các linh hồn”. “Giúp đỡ các linh hồn” là lối nói được I-nhã quen dùng, là mục tiêu mà I-nhã luôn nhắm tới, kể cả khi bị giam trong tù. Giúp đời, giúp người sống theo ý Chúa: đó mãi mãi là ước mơ của I-nhã.

Nhưng I-nhã không muốn đơn độc trong việc thực hiện ước mơ này. Ngay từ khi bắt đầu đi học lại ở Barcelona, I-nhã đã quy tụ những người bạn cùng chí hướng. Ngài thường dùng Linh Thao để chia sẻ cho họ kinh nghiệm thiêng liêng quý báu của mình và biến họ trở thành những con người sống hoàn toàn cho Thiên Chúa. Chính I-nhã cũng nhìn nhận là qua Linh Thao “có nhiều người đạt được một hiểu biết và cảm nếm sâu xa về những chuyện thiêng liêng.” I-nhã đã phải chờ lâu trước khi cho Phan-xi-cô Xavier làm Linh Thao. Anh này là một khối bột khó nhồi, vì anh còn mải mê chuyện danh vọng thế gian.

Nhóm bạn mà I-nhã quy tụ được ở Paris là nhóm bạn thành công nhất. Sáu người đều là những sinh viên tốt nghiệp ở cùng trường đại học. Sáu người đều làm Linh Thao, Phan-xi-cô Xavier làm sau cùng. Sáu người đều trở thành linh mục. Họ muốn sống nghèo, sống khiết tịnh. Họ muốn đi Đất Thánh để phục vụ ở vùng đất đầy nguy hiểm này, và nếu không đi được, họ muốn đặt mình dưới sự điều động của Đức Thánh Cha để Ngài sai họ đi đâu tùy ý. Tình bạn giữa những người khác quốc tịch này thật tuyệt vời. Họ được gắn kết với nhau chặt chẽ đến nỗi sau này khi Đức Thánh Cha muốn sai họ đi nhiều nơi khác nhau, họ đã sợ tình bạn của họ bị tan vỡ. Để bảo vệ tình bạn này và đem lại hiệu quả cho việc tông đồ, I-nhã và các bạn đã cầu nguyện và nhận định trong một thời gian dài trước khi đi đến quyết định lập một dòng tu mới: Dòng Chúa Giêsu, không phải Dòng của I-nhã, vì chính Chúa Giêsu mới thật là người khai sinh ra Dòng.

Các bạn thân mến, dù chúng ta không có sự thánh thiện và tài chinh phục lòng người như I-nhã, nhưng nhờ ơn Chúa chúng ta vẫn có thể làm được một số việc như ngài. Nhiều bạn trẻ đến với nhóm, đến với Linh Thao là nhờ sự giới thiệu của những bạn khác trong nhóm. Nhiều bạn dù đã ra trường nhưng vẫn đóng góp tích cực để nhóm tồn tại và phát triển cho đến nay. Điều chúng ta mong ước là xây dựng một nhóm bạn như nhóm bạn thân thương của I-nhã ngày xưa, nhóm “bạn trong Chúa” (amigos en el Sen~or). Một nhóm đặt nền trên Linh Thao, có mục đích là “giúp đỡ các linh hồn”, nói tắt là “giúp người”. Một nhóm say mê Giêsu, muốn sống như Giêsu, mơ ước và hành động như Giêsu, để xây dựng Nước Trời ngay giữa lòng quê hương dân tộc.

Chúng ta đặc biệt cầu nguyện cho các anh chị Cựu, để những lo toan về cuộc sống vật chất và gia đình không làm các anh chị mất đi ngọn lửa nhiệt thành của người đã muốn sống theo tinh thần I-nhã.

Nguyễn Cao Siêu SJ

dongten.net 26.07.2015
 ngày 26/7 (Mt 13, 1-9)
CHA MẸ TUYỆT VỜI
Cây thấy xanh tươi chưa chắc là đã tốt, nhưng phải là cây cho sinh nhiều hoa trái xinh tươi. Mẹ Maria là hoa trái quí hóa, tuyệt vời của ông bà thánh Gio-a-kim và Anna…Dù rằng Tin Mừng không ghi lại điều gì về cha mẹ của Đức Trinh Nữ Maria, nhưng thánh truyền đã đề cập đến vai trò của hai ông bà Gio-a-kim và Anna. Ta đi ngược dòng lịch sử cứu độ để hiểu hơn vai trò của thánh Gio-a-kim và thánh Anna. Thánh Gio-a-kim và thánh Anna có thể là cầu nối giữa Cựu Ước và Tân ước, giữa Israen cũ và Israen mới. Hai vị thánh này đã được Thiên Chúa tuyển chọn, chúc phúc và ban nhiều ân huệ quí giá, qua đó, các Ngài sinh ra Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ Đức Giêsu…

Thánh Gio-a-kim tượng trưng cho người gia trưởng mẫu mực đạo đức, thánh thiện và luôn sẵn sàng bảo vệ, nâng đỡ bà thánh Anna, còn bà thánh Anna được tôn sùng như mẫu gương của các bà mẹ, đồng thời Hội Thánh tặng cho bà danh hiệu Mẹ của Đức Trinh Nữ Maria. Sách nguyï thư của thánh Giacôbê có ghi: “ Hai ông bà đã già mà không có con, đây là một thử thách lớn lao của hai ông bà, nhưng cuối cùng thiên thần Chúa đã hiện ra loan báo cho hai ông bà một tin vui mừng: bà sẽ thụ thai và sinh ra Đức Trinh Nữ Maria và hai ông bà đã dâng Đức Mẹ trong đền thờ cho Thiên Chúa “.
Hội Thánh đã chọn ngày 26/7 hằng năm kính nhớ hai thánh Gio-a-kim và Anna. Lòng sùng hai vị thánh này đã có từ cổ xưa và ngày nay đã lan tràn khắp thế giới.
“Lạy thánh Gioakim và thánh Anna, đôi bạn hạnh phúc, tất cả mọi tạo vật đều mang ơn các Ngài, vì nhờ các Ngài mà tạo vật đã dâng lên cho Đấng Hóa Công một lễ vật cao trọng, đó chính là Đức Mẹ, Mẹ Thiên Chúa “ ( lời cầu của thánh Đamascênô ).
Xin cho mỗi người chúng con luôn noi gương bắt chứoc hai thánh Gioakim và thánh Anna luôn hết lòng tôn vinh tình yêu tuyệt vời của Thiên Chúa. Amen.
Xin kính chúc những chị em nào nhận Thánh Anna làm bổn mạng, luôn vui tươi hạnh phúc và sinh hoa kết quả tốt như Thánh Anna đã sinh ra Đức Trinh Nữ Maria là mẹ của Đức GiêSu nhé
(LCc)-Lúc 6 giờ 30 sáng 25 / 7 / 2015, tại Đền thánh An-rê Phú Yên – Phước Kiều, Đức Giám Mục (ĐGM) Giuse – Giám mục Giáo phận Đà Nẵng, Linh mục đoàn, quý nam nữ Tu sĩ, những Vị Đại diện…đã Đại diện cho các Tín hữu Việt Nam trên toàn thế giới nói chung, và cách riêng Giáo phận Đà Nẵng, hân hoan kiệu Thánh tích ( 5 sợi tóc), mừng sinh nhật trên trời lần thứ 371 Chân Phước An-rê Phú Yên.
DaNang-AnrePhuYen-1.jpg

Mở đầu Thánh lễ đồng tế do ĐGM chử sự, trong Giê-su là Đấng yêu thương qui tụ muôn người nhờ Máu cứu độ của Ngài. ĐGM đã mời gọi cộng đoàn, cách riêng giới trẻ, sống chứng nhân Tin Mừng như Thánh nhân, dấn thân cho Đức Tin và lòng yêu mến Thiên Chúa cho đến hết hơi, cho đến trọn đời.

Trong bài giảng, ĐGM thuật lại chuyện ĐHY Fernando Filoni – Bộ Trưởng bộ Loan Báo Tin Mừng đến viếng thăm Đền Thánh An-rê Phú Yên, trong chuyến thăm mục vụ Gp Đà Nẵng (23.1.2015). “ Tôi thấy nhiều anh em Lương dân đón Tôi trong nụ cười và ánh mắt đầy thiện cảm “ “ chứng tỏ môi trường truyền Giáo thuận lợi…” ĐGM Giuse thuật lại ĐHY đã nói như vậy.

Mảnh đất Phước Kiều và Hội An là chiếc nôi của Giáo Hội Việt Nam, tại nơi này, An-rê Phú Yên và gia đình được nhập vào thân thể mầu nhiệm của Chúa qua Bí tích rửa tội, đã gia nhập Hội Thầy Giảng ( 6.7.1643) cùng với 9 anh em khác, qua một Nghi lễ, như nghi lễ khấn Dòng ngày nay, và sau 1 năm, Ngài đã hiến dâng mạng sống làm chứng cho Tình Yêu, cho lời rao giảng về một Thiên Chúa tình yêu…

Ngày nay Giáo Hội tha thiết mời gọi mỗi người Tín hữu hoán cải mục vụ, canh tân đời sống, trung thành sứ mạng làm cho mọi người tìm được niềm vui trong Tin Mừng. Không gian mục vụ rộng mở, không đóng khung trong gia đình, Giáo xứ và Giáo Hội. Nhưng đến với mọi người.

Cuối Thánh Lễ, Cha Phao lô Trần Ngọc Hoàng – Quản nhiệm Đền Thánh đã cám ơn ĐGM, quý Linh Mục, quý Tu sĩ, và cộng đoàn đã đến hiệp dâng Thánh lễ cầu nguyện cho Giáo Hội, cách riêng cho cộng đoàn Tín hữu mảnh đất thánh này. Cha cũng cám ơn Chính Quyền, Giáo xứ Trà Kiệu, Gx Hội An, các Giáo xứ lân cận, anh chị em Lương dân xung quanh, con cháu gốc Phước Kiều đang sống và làm việc nơi xa, Hướng Đạo, ca đoàn tổng hợp của Phước Kiều và Hội An, và tất cả những ai đã góp công của cho buổi lễ được thuận lợi tốt đẹp.

Tiếp đó, đội vũ của các em Giáo xứ Hội An, trong vũ khúc tạ ơn đầy sôi động, làm tăng thêm niềm vui trong ngày mừng sinh nhật trên trời Chân Phức An-rê Phú Yên

Trước lúc ban Phép lành, ĐGM và cộng đoàn mừng bổn mạng các Cha Gia-cô-bê: Hứa Hùng Quang (Quản xứ Thanh Bình), Nguyễn Hồng Phong ( Quản xứ Vân Đõa), Lê Quí Đạt (Quản xứ Hà Tân) trong ngày lễ kính Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ (25.7) và Cha Gioakim Trần Kim Thượng (Hạt Trưởng hạt Hòa Vang, Quản xứ Cẩm Lệ) trong ngày lễ kính Hai Thánh Gioakim-Anna (26.7). 

ĐGM đã lượt qua sự phát triển về cơ sở vật chất và cộng đoàn tại Phước Kiều sau 9 năm được nâng lên thành Đền Thánh, nơi hành hương của mọi người. Ngài mời gọi anh chị em Giáo lý viện, Giới trẻ … đến hành hương, sinh hoạt, huấn luyện kỷ năng, vui chơi … làm các việc đạo đức tại đây. Tạo môi trường tốt cho việc người Tín hữu cầu nguyện với Chân Phước An-rê Phú Yên, và cơ hội tốt cho việc xin Tòa Thánh Phong Thánh cho Ngài.

Dịp Lễ này, cũng là dịp” ra mắt “ hình thành Caritas Giới trẻ, mỗi Giáo xứ có 5 bạn trẻ tham gia, Hiện nay đã có 25 Giáo xứ đăng ký. Với sức trẻ, các bạn tham gia vào việc chung của Giáo Hội là bác ái- bảo vệ và tiếp tục cộng tác trong chương trình sáng tạo của Thiên Chúa.

Tiếp đó, ĐGM thông báo một niềm vui của Giáo phận vào ngày 4 / 8 / 2015 sắp đến, sẽ có Thánh Lễ trao tác vụ cho 8 tân Linh Mục và 5 Phó tế. 

ĐGM đã Đại diện cộng đoàn cám ơn Cha Quản nhiệm, Thầy giúp xứ và tất cả những người đã cộng tác giúp đỡ, làm cho buổi lễ thêm phần long trọng tốt đẹp, trước lúc ban phép lành Kết thúc Thánh Lễ.

Qua lời chuyển cầu của Chân Phước An-rê Phú Yên, xin Chúa ban nhiều ơn cho tất cả mọi người khi đến cầu nguyện với Thánh nhân.

Được biết: Cộng đoàn Tín hữu Phước Kiều hiện nay có 150 người, khu vực vệ sinh mới, sạch thoáng khoảng 50 m2, thuận tiện cho các đoàn đến hành hương. 2 phòng dạy Giáo lý vừa xây xong khang trang nhưng chưa có vật dụng gì ở trong đó. Ngôi Đền Thánh bé nhỏ, cũ xưa, chưa xứng tầm với lịch sử và lòng yêu quí của cộng đoàn Tín Hữu Giáo Hội Việt Nam.

Ước mong mọi người Tín hữu đến hành hương với lòng tri ân Hạt Giống Tin Mừng đầu tiên, sinh muôn hạt của Giáo Hội Việt Nam, cầu Nguyện xin Ngài chuyển lời nguyện đến với Thiên Chúa…. Và tỏ lòng hiếu thảo với Ngài, với Giáo Hội bằng việc làm cụ thể !

DaNang-AnrePhuYen-2.jpg

DaNang-AnrePhuYen-3.jpg

DaNang-AnrePhuYen-4.jpg

DaNang-AnrePhuYen-5.jpg

DaNang-AnrePhuYen-6.jpg

DaNang-AnrePhuYen-7.jpg


Toma Trương Văn Ân
 
 
 
VATICĂNG: Mức tiến bộ của một nền văn minh được đo lường bởi khả năng giữ gìn và bênh vực sự sống từ lúc thụ thai cho tới khi chết tự nhiên, và đặc biệt trong những giai đọan giòn mỏng nhất.

ĐTC đã khẳng định như trên trong sứ điệp gửi “Ngày sự sống” bênh Anh quốc được cử hành vào ngày Chúa Nhật 26 tháng 7 này về đề tài: “Vun trồng sự sống, chấp nhận cái chết”. Ngày này nằm trong chiến dịch do HĐGM Anh quốc và vùng Galles phát động nhân dịp Quốc Hội Anh thảo luận về dự luật cho phép trợ tử vào ngày 11 tháng 9 tới đây. Dự luật này cho phép những người trưởng thành bị bệnh vào thời kỳ cuối lựa chọn kết thúc sự sống bằng việc trợ tử.

ĐTC Phanxicô đã nhiều lần lên tiếng về vấn đề “làm cho chết êm dịu lén lút” của biết bao nhiêu người già và người yếu đuối. Ngài khẳng định rằng “Mỗi một người già, cả khi tàn tật hay ở trong những ngày cuối đời, đều mang nơi mình gương mặt của Chúa Kitô. Sư sống luôn luôn bất khả xâm phạm. Không có một cuộc sống có  phẩm giá ý nghĩa hơn một cuộc sống khác. Không có các sự sống cần gạt bỏ. Tư tưởng thống trị đôi khi đề nghị  một sự “cảm thưởng giả dối” cho rằng trợ tử là một cử chỉ bảo vệ phẩm giá con người. Trái lại, cần phải săn sóc con người, nhất là khi nó khổ đau, giòn mỏng và không được bệnh đỡ.

ĐTC nhắc lại rằng Giáo Hội luôn luôn lựa chọn bênh đỡ những người rốt hết, những người mà xã hội gạt bỏ và vứt đi. Trong số đó có cả các thai nhi, là những người không được bảo vệ và vô tội nhất, mà ngày nay người ta muốn khưóc từ phẩm giá là người để có thể sử dụng như người ta muốn, bằng cách lấy mất đi sự sống của chúng và thăng tiến các luật lệ để không ai có thể ngăn cản việc giết người ấy. ĐTC mạnh mẽ khẳng định rằng: yêu sách giải quyết các vấn đề bằng cách loại bỏ một sự sống con người không phải là tiến bộ. Đó là thái độ của các tay “tội phạm mafia”: “Có một vấn đề, chúng ta hãy loại bỏ tên này…” Và nó cũng không phải là một chinh phục khoa học “sản xuất” một đứa con được coi như một quyền, thay vì tiếp đón nó như mọt món quà; hay sử dụng các mạng sống như vật thí nghiệm để cứu sống những người khác. Lòng trung thành với Tin Mừng sự sống đôi khi đòi hỏi các lựa chọn can đảm đi ngược dòng, mà trong các tình huống đặc biệt, có thể dẫn tới chỗ phản kháng vì lý do lương tâm. Đây không phải là một vấn đề tôn giáo như vài người tưỏng nghĩ, nó là một vấn đề khoa học, bởi vì ở trong đó có sự sống con người. Nó cũng không phải là một vấn đề của sự tân tiến, bởi vì trong tư tưởng cũ hay trong tư tưởng tân tiến từ “giết người” vẫn mang cùng một ý nghĩa.

Sau cùng, ĐTC nhấn mạnh rằng mức độ tiến bộ của một nền văn minh được đo lường bởi khả năng giữ gìn sự sống, nhất là trong các giai đoạn giòn mỏng nhất, và chiến đấu chống lại các mưu sát sự sống trong tất cả mọi khiá cạnh của nó. Nạn phá thai là mưu sát sự sống. Để cho các anh chị em của chúng ta chết trên các con thuyền trong kênh Sicilia là mưu sát sự sống. Chết trong khi làm việc vì không có sự tôn trọng các điều kiện an ninh tối thiểu là mưu sát sự sống. Chết vì thiếu dinh dưỡng là mưu sát sự sống. Khủng bố phá hoại, chiến tranh, bạo lực là mưu sát sự sống, nhưng làm cho chết êm dịu cũng là mưu sát sự sống. Yêu sự sống là luôn luôn săn sóc tha nhân, muốn cho họ được hạnh phúc, vun trồng và tôn trọng phẩm giá siêu việt của họ (RG 23-7-2015)

Nguồn: 
 vietvatican.net
Theo tin tờ L’Osservatore Romano, ngày 23 tháng 7, người Công Giáo tại Iraq đang ‘thách thức’ Nhà Nước Hồi Giáo Trị không phải bằng vũ khí mà bằng giáo dục và giảng dạy, nhờ sự đóng góp và hỗ trợ của Đại Học Công Giáo Úc. Tháng Mười tới này, các khóa giảng sẽ được bắt đầu tại Đại Học Công Giáo Erbil, một đại học được Giáo Hội Canđê ở Iraq coi như phương cách cụ thể giúp giới trẻ Kitô Giáo Trung Đông.

Trong những ngày gần đây, Đức TGM Bashar Matti Warda của Erbil (Giáo Hội Canđê) đã gặp gỡ các đại diện của Đại Học Công Giáo Úc (ACU), Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Úc và Đức TGM Denis James Hart của Melbourne để phối hợp tốt đẹp hơn các trợ giúp cần thiết nhằm hoàn tất việc xây cất đại học, tọa lạc tại Erbil, một thành phố phần đông là Kitô Giáo. Giáo Hội Canđê cung cấp 30,000 mét vuông đất làm cơ sở cho đại học này.

Mục đích ngay từ đầu là tạo nên một đại học tư, mở cửa đón chào mọi người, nhằm thoả mãn nhu cầu của dân chúng. Đại học cũng sẽ phục vụ như một trung tâm nghiên cứu. Gần ba năm sau các biến cố bi thảm diễn ra tại các vùng phía bắc Iraq, khiến hàng ngàn Kitô hữu phải bỏ của chạy lấy người khỏi bàn tay độc ác của Nhà Nước Hồi Giáo Trị để tới Erbil, Đại Học này sẽ là dấu chỉ hỗ trợ cụ thể đối với người trẻ Kitô hữu Iraq, đang bị cám dỗ lìa bỏ quê hương, để lại sau lưng các kinh hoàng của chiến tranh và các bất trắc và đe dọa khác do nó gây ra.

Tờ Newsweek, ngày 24 tháng 7 cũng đăng tải lại bản tin trên và cho hay: một đại học Công Giáo sắp được mở tại Erbil, trong vùng thuộc người Kurd ở Iraq, nơi các Kitô hữu đang tuyệt vọng bám víu lấy di sản cả hàng nghìn năm nay trước sức đe dọa khủng khiếp của Nhà Nước Hồi Giáo Trị.

Newsweek cho hay Erbil, thủ đô của người Kurd ở Iraq, đã trở thành nơi tị nạn của các Kitô hữu di tản từ các nơi như Mosul và Bình Nguyên Ninivê. Họ buộc phải bỏ cửa bỏ nhà chạy trốn sự tàn bạo của Nhà Nước Hồi Giáo Trị. Khoảng 125,000 Kitô hữu đã nhập cư vào Erbil hồi mùa hè năm trước sau khi Nhà Nước Hồi Giáo Trị tràn vào các thị trấn của họ.

Nhà Nước Hồi Giáo Trị (ISIS) hiện đang kiểm soát nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn khắp Iraq, nhưng vẫn chưa tới gần được Erbil vì sức kháng cự rất có hiệu quả của các lực lượng Peshmerga của người Kurd. Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ, Ash Carter, đã tới Erbil hôm thứ Sáu vừa rồi để nói chuyện với Tổng Thống Kurd, Masoud Barzani, về các cuộc hành quân đang tiếp diễn chống lại ISIS.

Newsweek cũng thuật lại nhận định của Đức TGM Warda rằng việc thành lập đại học này là “một phương cách chống trả bọn Daesh [ISIS] và nói cho chúng hay: chúng tôi nhất định không đi đâu cả”. Ngài nói thêm rằng đại học này được thiết kế để chào đón người trẻ Kitô hữu và người trẻ Yazidi từng bị ISIS, cũng như nhiều nhóm Hồi Giáo quá khích khác trong nước, bách hại, nhưng cũng chào đón “các người Hồi Giáo muốn học hành bên cạnh người Kitô hữu và Yazidi với mục đích lên khuôn một tương lai mới và hứa hẹn cho Iraq và cả vùng”. Ngưòi Yazidi là nhóm tôn giáo thiểu số độc thần tập trung ở bắc Iraq. Họ bị ISIS tố cáo là thờ ma quỉ.

Cùng với nhiều nhóm thiểu số tôn giáo khác, các Kitô hữu chịu nhiều tan tác bởi sự xuất hiện của ISIS khắp Iraq và Syria. Tại các thị trấn bị ISIS chiếm đóng, các Kitô hữu bị buộc phải từ bỏ đức tin của mình và trở lại Hồi Giáo nếu không sẽ bị xử tử. ISIS đã cho phát hành nhiều cuốn video tuyên truyền, cho thấy họ hành quyết nhiều Kitô hữu, trong đó, có cuốn video nổi tiếng nói về vụ 30 Kitô hữu Coptic bị chặt đầu ở một bờ biển Lybia.

Khi tới thăm Anh hồi tháng Hai, Đức TGM Warda xin chính phủ Anh hỗ trợ hành động quân sự ở Iraq; trong bài diễn văn trước quốc hội Anh, ngài nói rằng các cuộc không kích mà thôi không đủ để đánh bại ISIS. Vatican cũng kêu gọi Liên Hiệp Quốc tổ chức một lực lượng quốc tế để chặn đứng nạn diệt chủng Kitô hữu tại Iraq và Syria. Đức Giáo Hoàng Phanxicô từng cho rằng việc sử dụng lực lượng quân sự chống lại ISIS là điều hợp pháp.

John Pontifex, viên chức phụ trách báo chí và thông tin của tổ chức bác ái Trợ Giúp Các Giáo Hội Thiếu Thốn, nói rằng việc xây dựng đại học Công Giáo nói trên là một dấu chỉ cho thấy cộng đồng Kitô hữu địa phương có một tương lai lâu dài tại Iraq. Theo ông “ý niệm là: nếu họ có thể tạo ra một trung tâm giáo dục, thì họ cũng có thể giúp các Kitô hữu có khả năng đóng góp phần đầy đủ của họ cho xã hội, hơn là cảm thấy rằng đây chỉ là điểm dừng chân trước khi di chuyển tới những đồng có mới ở bên ngoài xứ sở”.

Tuy nhiên, ông nói thêm: tình thế các Kitô hữu ở Iraq nguy kịch đến độ Erbil tượng trưng cho nơi trú ẩn cuối cùng của cộng đồng này. “Điều rõ ràng là sau khi đã di chuyển mọi sự từ Mosul và Ninivê tới Erbil… đây là chỗ đứng cuối cùng của họ, chỗ đứng cuối cùng của các Kitô hữu Iraq. Hy vọng là nơi đây sẽ là nơi yên ổn và nhờ thế, các Kitô hữu có thể xây dựng một tương lai”.
theo:thanhlinh.net
Xin đừng quên tôi!

1. Fget me noort.

Có một loài hoa đẹp tên là Forget me not.

Tên khoa học: Myosotis - Family : Boraginaceae

Tên tiếng Việt: Hoa Lưu Ly

Tên tiếng Anh: Forget me not, Xin đừng quên tôi

Thông điệp: Tình yêu chân thành (True Love) - Hoài niệm (Memories)

Ngày 28/4/1917, Forget me not được chính thức trở thành biểu tượng hoa của tiểu bang Alaska (Mỹ).

Hoa Lưu Ly có tên khoa học là Myosotis Scorpioides từ ý tưởng cánh hoa có hình tai chuột (Myosotic tiếng Latin là "tai chuột") và vì chúng thuộc họ cỏ Bò Cạp (Scorpion Grass) do các cụm hoa đều uốn cong lên giống như đuôi bò cạp. Đây là loài hoa bé nhỏ nhưng đầy sức sống và có hương thơm mát, phân bố tự nhiên ở vùng ôn đới. Forget me not có hoa màu xanh, trắng, tím, hoặc vàng, nhưng phổ biến là màu xanh hay tím violet đặc trưng (ở Đà Lạt). Forget me not thường được cắm chung hoặc làm nền cho các loại hoa khác, đem lại cảm giác trữ tình và êm dịu.

Hoa Lưu Ly thường được gắn với những hoài niệm yêu thương và tình yêu chân thành. Một truyền thuyết của người Đức đã giải thích nguồn gốc tên của loài hoa màu xanh tím nhỏ bé xinh đẹp này, cũng như ý nghĩa của nó trong ngôn ngữ các loài hoa :

Ngày nọ, có một hiệp sĩ trẻ và người yêu đang đi dạo dọc theo bờ sông Danube. Cô gái trông thấy mấy cánh hoa đẹp mọc ở ven bờ, nơi sát mí nước, rất thích, cô bảo người yêu hái chúng cho mình. Nhưng than ôi, trong lúc cố vươn tay với lấy các cành hoa, chàng hiệp sĩ trượt ngã xuống dòng sông đang chảy xiết. Bị vướng víu áo giáp nặng nề, chàng đã không thể vượt qua được bờ sông trơn trượt dù đã cố gắng hết sức. Cảm thấy mình đang nhanh chóng chìm xuống, anh ném hoa lên bờ cho người yêu và bằng tất cả hơi thở tàn của mình trước khi chìm mãi, anh gọi nàng một lời như trăn trối : "Đừng quên nhau nhé !" rồi mất hút trong dòng nước xiết... Người yêu đau khổ đã không bao giờ quên anh, cô cài những cánh hoa ấy trên tóc cho đến khi chết.

Một truyền thuyết khác kể rằng, có một người du hành nọ đang lang thang trong thung lũng hoang vắng thì nhìn thấy một bông hoa lạ mà anh chưa từng gặp bao giờ ngay dưới chân mình. Anh hái bông hoa, ngay lập tức, cạnh dốc núi hé mở ra. Anh bước vào trong và thấy trước mắt mình không biết cơ man nào là vàng và ngọc ngà châu báu. Anh sung sướng và bắt đầu thu nhặt chúng, nhưng lại vô tình đánh rơi bông hoa bé nhỏ. Bông hoa thầm thì một cách yếu ớt : "Xin đừng quên tôi ! Xin đừng quên tôi !" Tuy nhiên, người lữ hành mải lo say sưa với những vật báu trước mặt mà làm ngơ trước lời khẩn cầu đó. Rồi, khe núi bắt đầu khép dần lại, anh ta chỉ còn một chút thời gian ngắn ngủi để chạy thoát. Nhưng, Alas ! Bông hoa nhỏ từng giúp anh mở cái hang châu báu này đã biến mất mãi mãi.

Còn theo một truyền thuyết Công giáo, ngày nọ, Đức Chúa Trời đi ngang qua vườn địa đàng sau khi sáng tạo ra thế giới muôn loài. Người bỗng chú ý đến một bông hoa nhỏ và hỏi nó tên gì. Bông hoa ngượng ngùng thì thầm : "Hic, con sợ rằng con đã quên mất rồi ạ, thưa Chúa" (I am afraid I have forgotten, Lord). Đức Chúa ôn tồn trả lời : "Forget Me Not. Uh, ta sẽ không bao giờ quên con". (nguồn: hoa-forget-me-not.blogspot.com).

2. Nhớ đến tôi

Tháng Mười Một lại về, tháng nhớ đến và cầu nguyện đặc biệt cho mọi tín hữu đã qua đời hiện đang còn thanh luyện trước khi hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. Với người Công Giáo, Tháng Mười Một là Mùa Cầu Hồn, mùa nhắc nhở mỗi người nhớ đến người đã “đi trước”, và cũng nhắc nhở mỗi người: “nay anh mai tôi”.

Hoa Forget me not gởi sứ điệp cho mọi người: Xin nhớ đến tôi.

Ai cũng mong ước người khác nhớ đến mình.

Mẹ sửa soạn đi chợ, đứa con nhỏ nũng nịu: mẹ nhớ mua quà cho con nhé.

Con cái đi học đi làm xa, cha mẹ dặn dò: nhớ cầu nguyện hàng ngày nghe con, nhớ thường xuyên gọi điện về nhà nghe con.

Chồng đi làm xa, vợ dặn dò: anh nhớ gọi điện cho em nhé.

Vị linh mục thăm viếng bệnh nhân, khi ra về người bệnh thường nói: Cha nhớ cầu nguyện cho con nhé…

Trên thập giá, người trộm lành thưa với Chúa Giêsu: “Lạy Ngài khi nào vào nước của Ngài, xin nhớ đến tôi”.

Chúa Giêsu căn dặn các môn đệ: “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22,19). Mỗi ngày trong Thánh lễ, Lời Chúa Giêsu được lập lại long trọng trong Lời Truyền Phép: Các con hãy làm việc nầy mà nhớ đến Thầy.

Cuộc sống hằng ngày của mỗi người có bao gian truân vất vả, bao trăn trở ưu phiền. Khi có người gọi điện thoại hỏi thăm, khi nhận được một lá thư, một món quà, lòng tôi ấm lên niềm vui và hạnh phúc. Bởi lẽ, có người nhớ đến gọi điện cho tôi, viết thư cho tôi, tặng quà cho tôi.

“Nhớ đến tôi” là ba chữ ai cũng muốn có trong cuộc đời mình. Nếu không được ai nhớ đến, cuộc đời tôi bất hạnh biết bao!

Những người đã ra đi yên nghĩ trong lòng đất, họ cần điều gì nhất? Họ cần đến lòng thương xót Chúa. Họ cần chúng ta nhớ đến họ. Ông bà cha mẹ, những thân bằng quyến thuộc của chúng ta đã an giấc ngàn thu cần chúng ta cầu nguyện tưởng nhớ đến họ. Nghĩa trang là nơi an bình yên tĩnh. Người đã khuất sống mãi trong trái tim tình yêu, trong lòng nhớ ơn thiết nghĩa của người còn đang sống. Giọt nước mắt khi người ta khóc, chính là những viên kim cương lấy từ trái tim để tặng cho người mình nhớ thương đã an nghĩ.

Nhớ lời một ca khúc “Không Tên” của Nhạc sĩ Vũ Thành An: “Triệu người quen có mấy người thân, khi lìa trần có mấy người đưa?”. Sống mà không được nhớ tới là sống trong lạnh lẽo của mộ sâu. Đau khổ nhất của người đang sống chính là cô đơn, là không được ai nhớ đến.Thiệt thòi lớn nhất của người đã chết là bị quên lãng. Người đã chết chẳng cần ăn mặc, không nói năng, không nổi niềm, không đi đứng. Họ đã bước vào cõi thinh lặng ngàn thu. Họ chỉ cần chúng ta nhớ đến và cầu nguyện. Họ muốn chúng ta cho họ những bông hoa tưởng nhớ, những nụ hoa cầu nguyện, những mật hoa bác ái, những hương hoa hy sinh.

Hãy tặng cho những người đã an giấc những bông hoa Forget me not. Hãy để hương hoa “xin đừng quên tôi” phảng phất xung quanh nấm mồ. Họ cần thứ hoa đó hơn con thơ cần sữa mẹ, hơn thiếu nữ cần tình yêu, hơn khu vườn cần nắng ấm.

Chúa Giêsu dạy lời vàng ngọc: “Hãy làm cho người khác điều mà con muốn người khác làm cho con” (Mt 7,12). Hãy tưởng nhớ đến những linh hồn thân nhân, ân nhân, bạn bè, nếu chúng ta muốn sau này có nhiều người tưởng nhớ đến mình. Tình nghĩa quan trọng hơn bạc tiền. Đời sau giá trị hơn đời này.

Người Công giáo được khuyến khích thực hiện những điều thiết thực, ví dụ như xin Lễ, dự Lễ, đọc kinh cầu nguyện, làm việc lành phúc đức… để “nhớ đến” những người đã ra đi mà còn đang vướng mắc một vài trở ngại nào đó khiến họ chưa hoàn toàn chia sẻ vinh quang và hạnh phúc với Chúa.

Những việc lành phúc đức cho chúng ta một cảm giác hạnh phúc và ý nghĩa bởi vì thân nhân của chúng ta đã và sẽ còn được tưởng nhớ đến mãi.

“Nhớ đến tôi”, đó là ba chữ quan trọng cho người còn sống và cho người đã ra đi. Bao nhiêu tư tưởng cao siêu, bao nhiêu câu chuyện yêu đương đẹp như thần thoại cũng đều gói gọn trong cỗ quan tài. Bao nhiêu khối óc vượt nhân thế, bao nhiêu tính toán siêu vời cũng vỏn vẹn trong chiếc quan tài. Mênh mông như cuộc đời sau cùng cũng im lặng trong lòng đất.

Tôi chết có được người khác nhớ đến hay không? Đó là do cách sống của tôi trước khi chết. Người ta nhớ tôi hay không, là “quyền” của người ta. Nhưng chính tôi có bổn phận nhớ đến ngời đã khuất. Nhớ đến để cầu nguyện cho họ trong tình liên đới và hiệp thông Kitô giáo trong Chúa.

Sinh thời Chúa Giêsu đã muốn rằng: Người ở đâu, những kẻ Chúa Cha ban cho Người cũng sẽ được ở đó. Chúa dẫn đưa con người về bến bờ sự sống ngang qua sự chết. Trong ý hướng ấy, chúng ta cầu nguyện cho những người đã khuất và tin rằng tấm lòng của mình chạm đến được lòng xót thương của Thiên Chúa.

Tháng 11, nhớ đến những người đã an nghĩ, kinh nguyện và việc lành phúc đức chúng ta dâng chính là “của lễ cho người đi vào cõi sống”.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An
Phép lạ “Hóa bánh ra nhiều” có nội dung phong phú về Thần học và Giáo lý Bí Tích Thánh Thể, đồng thời cũng chứa đựng rất nhiều bài học về Nước Trời, về Dân Thiên Chúa, tình liên đới, sự cộng tác...

Hôm nay xin được chia sẽ về bài học Tiết Kiệm.

1.    Chúa dạy bài học tiết kiệm

Phép lạ hoá bánh ra nhiều, được bốn thánh sử ghi lại cả trong bốn Phúc âm (Mt 14,13-21; Mc 6,31-34; Lc 9,10-17; Ga 6,1-13). Matthêu và Maccô còn kể thêm lần thứ hai Chúa làm phép lạ hóa bánh ra nhiều (Mt 15,32-38; Mc 8,1-10).

Lần thứ nhất, Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều; cả ba thánh sử Mátthêu, Máccô, và Luca đều ghi nhận: sau khi dân chúng được ăn bánh no nê, người ta đã không bỏ phí những mẫu bánh còn dư thừa nhưng “đã thu lại tất cả được mười hai thúng đầy” (Mt 14, 20; Mc 6,43; Lc 9, 17). Riêng thánh Gioan nhấn mạnh, chính Chúa Giêsu đã ra lệnh cho các môn đệ: "Anh em (hãy đi) thu lại những miếng thừa kẻo phí đi” (Ga 6,1-12). “Họ liền đi thu những miếng thừa…và được mười hai thúng đầy”.

Lần thứ hai, Chúa Giêsu làm phép lạ cho bánh hóa nhiều, người ta cũng thu lượm lại tất cả những mẫu bánh thừa, tất cả “được bảy thúng đầy” (Mt 15,37; Mc 8,8).

Năm ngàn người đàn ông, không kể đàn bà con nít. Số người phải là đông lắm. Hơn cả chục ngàn người. Có ngàn ngàn chiếc bánh được phát ra. Bánh nhiều như vậy, tại sao Chúa Giêsu lại tiếc những miếng bánh vụn còn dư? Tại sao Chúa lại bảo thu lại những mãnh vụn: “Anh em hãy thu lấy những miếng thừa kẻo phí đi”?.

Chắc chắn nguyên nhân của phép lạ hoá bánh ra nhiều là: “Ta thương đoàn dân này”, vì “Ta không muốn để họ đói”, vì “Ta sợ rằng họ lả dọc đường” (Mt 15,32).

Chúa Giêsu quý những mẫu bánh vụn vì nó là phép lạ Chúa đã làm. Những phép lạ là tình thương, là ơn sủng, là ơn cứu độ của Chúa trao ban.Tình yêu và ân sủng như ngọn pháo bông, khi tung vỡ trên bầu trời tạo thành trăm ngàn vụn nhỏ càng rực rỡ huy hoàng. Khi tấm bánh được bẻ ra trên bàn thờ, bánh thánh nhỏ bé mỏng manh nhưng vẫn đầy tràn quyền năng và ơn thánh. Khi hiến lễ đền tội cho nhân loại của Đức Kitô trên đồi Calvê tan ra, vóc dáng Chúa Cứu Thế sụp xuống, đó cũng chính là lúc ơn cứu độ như nắng vỡ, lan ra, chảy tràn kín vũ trụ.

Chúa Giêsu quý những mảnh bánh vụn. Chúa bảo thu lại để dạy các môn đệ và chúng ta bài học tiết kiệm.

Những người vừa trải qua cơn đói, nay được một bữa no nê. Họ vất bỏ những mẫu bánh dư thừa. Khi dư giả, người ta dễ phung phí. Chúa Giêsu sai các môn đệ đi thu lượm những mẫu bánh thừa. Tiết kiệm là trân trọng những của cải Chúa ban. Tiết kiệm là ý thức của cải là của mọi người. Tiết kiệm thể hiện sự quý trọng kết quả lao động của bản thân và của người khác.

Chúa Giêsu quý những mảnh bánh vụn. Chúa bảo các môn đệ thu lại để dạy chúng ta đừng lãng phí ân huệ Chúa ban. Sự sống, sức khoẻ, thời gian, tài năng, trí tuệ, tài nguyên đều là ân huệ được ban tặng, cần trân trọng nâng niu gìn giữ. Trong ơn sủng của Chúa, không có gì là những mẫu vụn bé nhỏ tầm thường. Đức Hồng Y FX Nguyễn Văn Thuận đã từng khuyên rằng: “Muốn nên Thánh,con hãy làm những việc thường, có khi xem ra vô ý nghĩa nhất. Nhưng con đặt vào đó tất cả niềm mến yêu của con” (ĐHV 814); “Nhìn cây cổ thụ sum sê, con đừng quên rằng, từng trăm năm trước, nó đã khởi sự từ một hạt giống tí ti” (ĐHV 816); “Tự nhiên có ai lên đỉnh núi Hy Mã Lạp Sơn được? Tự nhiên có ai lên cung trăng được? Thử thách, hiểm nguy, ôn luyện, chuyên cần mỗi ngày, nhiều ngày, mới đạt được đích họ hy vọng” (ĐHV 817).



2. Tiết kiệm và lãng phí

          Tác giả Gã Siêu viết:

Muốn phát triển, phải cần kiệm. Đó là qui luật của muôn đời. Các nước văn minh đã sống qui luật này một cách nghiêm ngặt và chặt chẽ.

          Ở bên Mỹ, trong các trường tiểu học, người ta đã dạy cho con nít biết: Muốn có một đồng thì phải bắt đầu từ một xu; Muốn có một triệu thì phải bắt đầu từ một đồng. Ở bên Nhật cũng vậy. Trong các gia đình, người ta luôn nhắc nhở con cái sống theo phương châm: Mua gì ăn nấy; Ăn đâu hết nấy; Không để thừa mứa, lãng phí. Ở bên Israel cũng thế. Vào các nhà hàng, khách sạn, người ta không thấy đồ ăn thức uống để dư. Ngay tại các bến xe, bến tàu đều có những khẩu hiệu:Hãy tiết kiệm điện; Hãy tiết kiệm nước… Tại các công sở và xí nghiệp, để trừ khử thói lề mề, người ta trừ ngay vào lương những ai đến làm việc chậm trễ.

          Thấy người mà nhớ tới ta.
          Trên báo “Tuổi trẻ Chủ nhật”, tác giả Phạm đình Nghiệp đã đưa ra một vài trường hợp lãng phí điển hình.

          Trước hết, đó là việc lãng phí sức người, được thể hiện dưới nhiều dạng vẻ khác nhau: thất nghiệp, lao động trái ngành, chéo nghề được đào tạo, sử dụng nhân lực bất hợp lý, nhân tài không được trọng dụng, chảy máu chất xám… Tiếp đến là việc lãng phí tài sản, tiền bạc của dân và của nước. Người ta sẵn sàng tiêu phí hàng chục triệu đồng “của chùa” cho một đêm liên hoan gặp gỡ hay chia tay nào đó.

          Việt Nam chúng ta là một đất nước có thu nhập quốc dân tính theo đầu người vào loại thấp nhất, nhưng đã “hội tụ” được đủ mặt các loại bia ngon nhất.Trong nhiều cuộc “bù khú” nhậu nhẹt, người ta thi nhau không phải uống bia, mà là “gội bia”, “tắm bia” với hàng chục, thậm chí hàng trăm lít.

          Hằng ngày, chúng ta đã chứng kiến biết bao nhiêu cảnh lãng phí tiền bạc, làm nghèo cho dân cho nước. Cơ quan nào, xí nghiệp nào cũng cố xây cho mình những cơ sở bề thế và lộng lẫy.

          Hễ có chức một tí là vội sắm cho mình những chiếc xe đời mới đắt tiền, trang bị cho mình điện thoại di động đúng với “mô đen” thời thượng mà nghênh ngang với đời.

          Mới đây, trên báo “Tuổi trẻ cười”, có một bài mang tựa đề “hình như là lãng phí”, tác giả đưa ra một sự kiện… rất bình thường, nhưng lại rất xót xa. Đó là bộ giáo dục năm nào cũng đổi mới, năm nào cũng cải cách, nên năm nào, số sách giáo khoa mới in ra cũng được tha hồ đem bán ký.

Tác giả viết :“Ai ngờ đâu, tôi bỗng trở thành người thu gom giấy phế liệu để kiếm sống  và đến nay tôi đã cân cả tấn sách giáo khoa còn thơm mùi giấy mới. Ở đủ mọi lớp, thuộc đủ loại môn học. “Vốn dòng họ “tiếc”, mỗi khi gặp loại sách mới này (mà gặp hoài), tôi đều lấy mẫu về cho con tôi, nhưng chúng lại bảo: Không phải loại sách của trường con (dù đúng cấp, đúng lớp của chúng). Nhìn lại bìa thì thấy là của bộ Giáo dục và năm xuất bản, mới cách đó một hai năm mà thôi!!!

“Tôi nhớ ngày xưa, khi anh tôi vào lớp 12, tôi vẫn xài sách lớp 7 của ảnh để lại. Và khi tôi lên lớp 12, tôi vẫn xài sách ảnh đã xài mà không có trở ngại gì và vẫn “anh dũng” thi đậu, cha mẹ vui mừng khỏe re…Ôi sao mà dễ dàng tiện lợi và đỡ tốn kém quá cho cho mẹ và lớp học sinh thập niên 60, 70.

“Tôi đã qua cái cảnh ba ngày ròng đi tìm một cuốn sách học cho đứa cháu mới lớp 4. Nhiều lần nhịn ăn nhịn uống để dành tiền mua sách học cho con và bây giờ đứng trước hằng trăm ký sách giáo khoa chưa có tay người lật mà đành cân ký làm giấy gói đồ, hỏi sao không xót cho học sinh, phụ huynh đất nước?

“Tôi cũng rất ngạc nhiên phát hiện ra chỉ một môn học ở lớp 3, lớp 4, mà có đến ba, bốn thứ sách. Nào là quyển bài giải, bài mẫu … rồi quyển cho giáo viên … tất cả còn mới nguyên mà đem cân ký, không biết vì lý do gì và có lãng phí không?

“Năm nào, đọc báo cũng thấy bộ giáo dục than thiếu tiền, thiếu giấy in, thiếu sách cho học sinh đến độ có những cuộc phỏng vấn tùm lum về vấn đề này. Ấy thế mà năm nào, tôi cũng có dịp cân hết trăm ký lô này đến trăm ký lô khác sách giáo khoa … lòng tôi không khỏi cảm thấy bùi ngùi”.

          Trên đây là những chuyện lãng phí của quí vị có chức, tai to mặt lớn. Còn trong phạm vi cá nhân, gã cũng nghiệm ra còn có nhiều loại lãng phí khác nữa, mà chính bản thân gã cũng đã từng mắc phải. Gã chỉ xin đưa ra một thí dụ điển hình mà thôi, đó là lãng phí thời gian.

Người Tây thì bảo: Le temps, c’est  l’argent. Thời giờ là bạc. Còn người Tàu thì nói: Nhất thốn quang âm nhất thốn kim. Một tấc thời gian là một tấc vàng.

Thế nhưng, lắm lúc người ta đã không ý thức được sự quí giá của thời gian nên đã lãng phí nó một cách lãng xẹt.

Nơi gã đang cắm dùi là một thị trấn chỉ nhỏ bằng chiếc móng tay, thế mà có đến mấy chục quán cà phê. Đường nào cũng có, góc phố nào cũng có. Bất kể sáng, trưa, chiều và tối, hễ đặt chân ra đường hay xuống phố, đều thấy quí vị thanh niên ngồi thiền ở trong những quán ấy. Đáng lẽ ra: Đâu cần, thanh niên có ; đâu khó, có thanh niên. Thế nhưng, quí vị này lại chẳng biết làm gì cả, ngoài việc giết thời giờ trong quán, nhấm nháp vị đắng cà phê và đốt những điếu thuốc, lim dim thả hồn theo khói, ra dáng siêu nhân hay người cõi trên chi đó.

Tiếp đến là quán nhậu. Mỗi bữa nhậu kéo dài hai ba tiếng đồng hồ, quả là lãng phí. Hồi xưa, thấy một kẻ say xỉn ngoài đường phố, quả là chuyện họa hiếm, còn hôm nay lại là chuyện thường ngày ở huyện.(Nguồn: dunglac.org).

La Fontaine kể câu chuyện ngụ ngôn. Con ve sầu suốt mùa hè, chỉ biết ca hát, khi mùa đông trở về, gió bấc thổi tới, nó bị chết đói. Trong khi đó, dòng họ nhà kiến, suốt ngày thu tích lương thực, dè sẻn từng hạt gạo, dù có mưa bão hay lạnh giá, đời sống vẫn được bảo đảm an toàn.

3.    Cần phải tiết kiệm

Linh mục Nguyễn Hồng Giáo viết :

Ý thức về tiết kiệm (một hình thức của sống nghèo) nói chung, còn kém nơi tu sĩ, chủng sinh và linh mục ngày nay. Có vẻ như nhiều người không coi đó là chuyện quan trọng, được nhắc nhở thì để ý, xong rồi lại đâu vào đó, rất khó “đưa vào bộ nhớ”. Trời không lấy gì làm nóng, nhưng hễ vào phòng là mở quạt máy. Nhiều khi tập vở viết chưa hết, cái áo, cái quần, đôi dép cũ còn dùng tốt được, nhưng đã bị phung phí vất đi. Cả một chồng sách báo cũ có thể để cho người thu mua đồ vụn hay ít nhất đưa cho nhà bếp làm mồi lửa, vẫn đem đốt một cách “vô tư”. Từ xưa, tục ngữ Việt Nam có câu: xài của chùa. Nghĩa là xài mà không phải trả tiền, nên cứ việc thoải mái, khỏi cần chừng mực, tiết kiệm. Và cha chung, không ai khóc, của chung, không ai quan tâm. Tâm lý đó không chỉ phổ biến nơi cán bộ công chức (như được phản ánh trên Tuổi Trẻ) mà cả nơi quần chúng nhân dân và … trong các tập thể Giáo Hội ta nữa. Trong nội bộ chúng ta, cũng có những lãng phí rất quen thuộc. Như khi làm thiệp báo tin một lễ mừng nào đó, người ta thích in thật hoành tráng (giấy sang, in hai ba màu…) dù biết rằng người nhận coi xong là bỏ.

Thật tế nhị, nhưng tôi xin nói tới tiệc tùng trong giới Công giáo ta. Tiệc quá to, rất tốn kém và thường là thừa thãi. Nước ta xưa kia rất nghèo, người dân ăn không no, mặc không ấm, nên rất chú trọng chuyện ăn uống. Tuy thế, hay chính vì thế mà lại có tâm lý coi miếng ăn là miếng nhục (muốn ăn lắm, nhưng phải làm ra vẻ không cần để tránh làm cho người khác đánh giá mình vì chuyện ăn uống…). Tây phương thì khác. Họ giàu, nên các tiệc tùng của họ thường rất đơn giản, chỉ dọn vừa đủ ăn. Ăn uống, chỉ là một phần của cuộc họp mặt. Ở nước ta, dù đã bắt đầu có thay đổi, nhưng tâm lý chung của người Việt vẫn còn thích phô trương, thích giữ thể diện bằng vẻ hào nhoáng bên ngoài, đặc biệt trong tổ chức tiệc tùng, phải mâm cao, cỗ đầy, càng nhiều món, càng sang, cho dù biết trước là sẽ thừa mứa. Và tục lệ xã hội vẫn còn gây áp lực nặng nề. Có những lễ tạ ơn tân linh mục, dọn bảy, tám chục mâm, thậm chí cả trăm và hơn nữa.

Thời nay, việc truyền chức linh mục trở thành chuyện bình thường, có nên bình thường hoá việc ăn mừng không? Thay đổi một tục lệ xã hội là rất khó. Có khi chính người trong cuộc cũng rất ngại, rất lo khi phải tổ chức linh đình tốn kém, nhưng họ khó có thể làm “cách mạng” …! Tôi nghĩ nếu có một chủ trương chung nào đó từ trên xuống, - dòng tu, giáo xứ, địa phận - thì người giáo dân chắc sẽ chấp nhận. Đây mới chỉ nói tới tạ ơn tân linh mục, nhưng khấn dòng, lễ vàng, lễ bạc, các lễ kỷ niệm này nọ, và lễ cưới cũng thuộc diện này. Giáo Hội Việt Nam có nên đi trước xã hội trong vấn đề này không? Nhờ cơ cấu tổ chức rất chặt chẽ và uy tín rất lớn của hàng giáo sĩ đối với giáo dân, thiết nghĩ  nếu Giáo Hội quyết tâm và quyết liệt, cơ may thành công sẽ rất lớn. Đây cũng là nhiệm vụ giáo dục con người của Giáo Hội có thể làm ngay, không cần đợi đến khi được phép chính thức mở trường mở lớp. (Nguồn:nguoitinhuu.com).

Tiết kiệm khác với hà tiện, keo kiệt, bủn xỉn.

Tiết kiệm là biết sử dụng một cách hợp lý, đúng mức của cải vật chất, thời gian, sức lực của mình và của người khác. Tiết kiệm thời gian, tiết kiệm công sức, tiết kiệm tiền của.

Người Ý nói: Sự sung túc có được do hai bàn tay. Bàn tay này là tài năng, bàn tay kia là tiết kiệm. Người Thổ Nhĩ Kỳ bảo: Người ta trở nên giàu có, đó là do cần cù lao động và biết tiết kiệm trong chi tiêu. Tại nơi mở trương mục tiết kiệm ở các ngân hàng, người ta thường vẽ hình con gà mái ấp quả trứng vàng, có ý muốn nói những đồng tiền tiết kiệm bỏ vào đó, sẽ sinh nhiều lợi lộc, sẽ đem lại cho chủ nhân những trái trứng bằng vàng.

Tiết kiệm đi chung với giản dị.

Sống giản dị là sống phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của bản thân, gia đình và xã hội. Người giản dị thì không xa hoa, không lãng phí, không chạy theo những nhu cầu vật chất và hình thức bề ngoài. Sống giản dị, sẽ tiết kiệm được thời gian, tiền của, công sức để làm những việc có ích cho bản thân, cho gia đình và xã hội. Người tiết kiệm sẽ biết sống giản dị phù hợp với hoàn cảnh bản thân, gia đình, xã hội.

Việc nhỏ mà mỗi người chúng ta có thể thực hiện dễ dàng trong cuộc sống thường nhật, đó là sử dụng điện, nước, của cải vật chất một cách hợp lý, biết dùng thời gian vào những việc có ích và biết gìn giữ của công.

Cầu Nguyện

Lạy Chúa, đây là ước mơ của con về thế giới:

Con mơ ước tài nguyên của cả trái đất này là thuộc về mọi người, mọi dân tộc.

Con mơ ước không còn những Ladarô đói ngồi ngoài cổng, bên trong là người giàu yến tiệc linh đình.

Con mơ ước mọi người đều có việc làm tốt đẹp, không còn những cô gái đứng đường hay những người ăn xin.

Con mơ ước những người thợ được hưởng lương xứng đáng, các ông chủ coi công nhân như anh em.

Con mơ ước tiếng cười trẻ thơ đầy ắp các gia đình, các công viên và bãi biển đầy người đi nghỉ.

Lạy Chúa của con, con ước mơ một thế giới đầy màu xanh, xanh của rừng, xanh của trời, xanh của biển, và xanh của bao niềm hy vọng nơi lòng những ai ham sống và ham dựng xây.

Nếu Chúa đã gieo vào lòng con những ước mơ, thì xin giúp con thực hiện những ước mơ đó. Amen (Mana).

Linh mục Giuse Nguyễn Hữu An