Lạy Chúa Con | Tin Tức Công Giáo|Suy Niệm |Lời Chúa Hằng Ngày


Lần đầu tiên đến với Cuba ... vì vậy câu hỏi bây giờ là – phải chăng tiếp theo là Trung Quốc? Quốc gia cộng sản này sẽ cải thiện quan hệ với Vatican và được hiệp thông đầy đủ với Giáo Hội Công Giáo chăng?

Không có câu hỏi nào Đức Thánh Cha Phanxicô đã được thúc đẩy cho việc cải tiến, nhưng một số chuyên gia nói rằng, họ sẽ không đặt cược vào bất kỳ thay đổi quan trọng nào ... ít nhất là chưa.

Fr. Bernardo Cervellera, Giám đốc Asia News:
“Trung Quốc hiện là quốc gia có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Nó gần như một sức mạnh siêu cường khi nói đến trường chính trị quốc tế. Không giống như Cuba, nó không cần sự giúp đỡ của Vatican hay thực sự từ bất cứ ai khác để củng cố vị thế của nó.”

Fr. Bernardo Cervellera, là người sáng lập hãng thông tấn Asia News. Trong nhiều năm, ông phục vụ như một nhà truyền giáo ở Trung quốc, cho đến khi ông được “mời” ra khỏi đất nước này.

Với sự gia tăng Kitô giáo ở Á châu, đến năm 2050, Trung quốc có thể trở thành quốc gia đông Kitô hữu nhất.

Có một thách thức lớn giữa Vatican và Trung Quốc. Quốc gia cộng sản này từng tuyên bố - tự nó - một mình vận hành Giáo Hội của mình, không quan hệ bất kỳ ảnh hưởng nào với Vatican. Nó bổ dụng Giám mục riêng của mình và thường tuyên bố nó độc lập.

Fr. Bernardo Cervellera
“Ban công tác tôn giáo của Trung quốc liên tục gửi đi các tin nói rằng nó muốn một Giáo hội độc lập. Nó đe dọa sự phong chức, nói, 15 tân giám mục một năm. Nó tuyên bố nó có quyền dẫn dắt một Giáo hội độc lập mà không cần có sự ảnh hưởng của các tổ chức nước ngoài, ý nói Vatican.”

Trong thực tế, các Giám mục Trung quốc hợp pháp được Vatican tấn phong đã được biết là biến mất một cách bí ẩn, không một dấu vết trong đất nước của họ. Những người khác bị đưa đến các trại lao động cưỡng bức.

Mặc dù cũng có tin tốt. Trong hầu hết các khu vực, các tín hữu ước lượng trung bình có thể công khai có thể thực thi đức tin của họ ở Trung quốc. Nhưng hạn chế vẫn còn tồn tại đối với việc điều hành của các linh mục chánh xứ nhà thờ, gồm cả thời gian cử hành Thành lễ.

Fr. Bernardo Cervellera
“Điều này muốn nói rằng các linh mục quản xứ KHÔNG có sự tự do đi ra ngoài làm công tác mục vụ hay thực hiện nhu cầu của họ với cộng đồng và hoạt động thích hợp với sáng kiến của mình. Họ phải tuân theo các nguyên tắc đã được thiết lập bởi nhà cầm quyền.”

Fr. Cervellera không nghĩ rằng có bất kỳ cải tiến đột phá quan trọng nào sẽ diễn    ra giữa Tòa Thánh và Trung quốc trong một tương lai gần. Đó là một quá trình mà ông tin rằng, sẽ phải mất ít nhất hàng chục năm.

Jos. Tú Nạc, NMS




   
Một năm nữa là đến Ngày Giới trẻ Thế giới tại Krakow và Đức Thánh Cha Phanxicô muốn trở thành khách hành hương đầu tiên đăng ký. Ngài làm điều đó trong khi đọc kinh Truyền Tin vào hôm Chủ nhật, 26 tháng 7.

Đó là Ngày Giới trẻ Thế giới lần thứ 31, và được lấy cảm hứng từ Năm Thánh Từ bi do Đức Thánh Cha Phanxicô đề xướng. Thời gian đã được xác định: sẽ diễn ra từ ngày 25 đến 31 tháng 7 năm 2016.

Đức Thánh Cha đã chọn làm chủ đề của ngài là điều thứ năm trong tám mối phúc thật: “Ai thương xót người ấy là phúc thật, vì chưng họ họ sẽ được thương xót vậy.”

Tựa đề của bài thánh ca chính thức tên tương tự, “Ai thương xót người ấy là phúc thật” và lời ca của nó được tham khảo từ một số thánh vịnh và các dụ ngôn của Kinh Thánh.


Đến bây giờ, chỉ có một số sự kiện đã được tiết lộ. Sẽ có, ví dụ, một Via Crucis, lễ hội cho thanh niên và một bài giáo lý cho toàn thành phố. Đức Thánh Cha sẽ kết thúc các sự kiện với các buổi canh thức truyền thống và một thánh lễ đông đúc, trong đó ngài sẽ công bố thành phố tổ chức Ngày Giới trẻ Thế giới tiếp theo.

Sau 1 ngày Đức Thánh Cha đăng ký trực tuyến, số lượng đăng ký đã tăng vọt. Theo số liệu mới nhất từ ban ​​tổ chức, đã có hơn 45.000 khách hành hương đã đăng ký.

Jos. Tú Nạc, NMS

Trong thánh lễ ông bà của Chúa Giêsu năn nay, Thánh Joachim và Anne, Đức Thánh Cha Phanxicô đã yêu cầu một tràng pháo tay dâng tặng cho ông bà.

1. Tri ân
Đức Thánh Cha Phanxicô, Ngày 26 tháng bảy năm 2015:
“Tôi muốn chào hỏi đến tất cả những người bà và người ông để cảm ơn họ vì vị trí đặc biệt của họ trong gia đình và cho tầm quan trọng của họ đối với thế hệ hôm nay.”

Ngay từ buổi đầu, Đức Thánh Cha Phanxicô đã rất lưu tâm đến người già. Trong Thánh lễ vào đầu triều đại giáo hoàng của mình, ngài đã yêu cầu mọi người chăm sóc người già đặc biệt khi họ thường bị đẩy đến “bên lề tình cảm.” 

Một vài tháng sau đó, tại Đại hội Giới trẻ Thế giới ở Ba Tây, ngài đã nói với những người trẻ về tầm quan trọng của việc lắng nghe những người lớn tuổi.

2. Văn hóa an tử
Đức Thánh Cha Phanxicô, ngày 25 tháng 7 năm 2013:
“Nền văn minh toàn cầu này đã đi quá xa, quá xa ... bởi vì đó là sự sùng bái mà đã được xây dựng xung quanh các thần tiền để chúng ta đang phải chứng kiến ​​sự phát triển của một triết lý và một thực tiễn không bao hàm hai cực của cuộc sống đó là hy vọng của mọi cộng đồng. Những người lớn tuổi không được biểu hiện sự chăm sóc bởi vì không có ai quan tâm đến họ. Thì đó cũng là một cái chết êm ái văn hóa. Không ai cho phép họ nói năng hoặc hành động.”

Đức Thánh Cha Phanxicô biết rằng ông bà đóng một vai trò thiết yếu trong cuộc sống của trẻ em. Và ngài biết điều này bởi kinh nghiệm nhờ vào tình yêu thương của bà ngoại Rosa. Đây là cách mà ngài giải thích trong một bài giáo lý dành riêng cho ông bà.

3. Gương đức

Đức Thánh Cha Phanxicô, ngày 11 tháng 3 năm 2015:
“Những lời của ông bà chất chứa một cái gì đó đặc biệt cho những người trẻ tuổi. Và họ biết điều đó. Những lời mà bà tôi đã cho tôi, viết vào ngày chịu tôi được chịu chức linh mục, tôi vẫn mang theo bên đời, luôn luôn, trong lời kinh nhật tụng. Và tôi đọc thường xuyên và làm cho tôi trở nên tốt.”

Đây là lý do tại sao ngài không bao giờ mệt mỏi trong việc lên án những hành vi xúc phạm danh dự đối với người cao tuổi, những người đang chịu thiệt thòi trong xã hội. Ngài thậm chí còn nói rằng đây là một tội lỗi.

4. Cách ly
Đức Thánh Cha Phanxicô, ngày 4 tháng 3 năm 2015:
“Thật khủng khiếp khi thấy người già ném sang một bên. Nó xấu xa và đó là một tội lỗi.”

Những người lớn tuổi có tầm quan trọng đặc biệt trong ánh mắt của Đức Thánh Cha là ký ức tập thể của cộng đồng, và trên hết, là của gia đình.

5. Những người truyền bá đức tin
Đức Thánh Cha Phanxicô, ngày 11 Tháng 11 năm 2013:
“Chúng ta cầu nguyện cho những người ông của chúng ta, những người bà của chúng ta, những người quả luôn có vai trò anh hùng trong việc truyền bá đức tin trong thời gian bị bách hại. Khi cha mẹ vắng nhà hoặc khi họ có những ý tưởng kỳ lạ, những ý tưởng mà những nhà chính trị của thời đại giảng dạy họ, nó đã được những người bà truyền lại bằng đức tin.”

Trong thực tế, Đức Thánh Cha cho rằng người già rất quan trọng mà ngài là người đầu tiên tổ chức một sự kiện ở Vatican dành riêng cho họ. Đó là một ngày rất đặc biệt, và với sự xuất hiện rất hiếm hoi của Đức Benedict XVI, người mà Đức Thánh Cha Phanxicô âu yếm gọi là “người ông khôn ngoan.”

6. Sự khôn ngoan
Đức Thánh Cha Phanxicô, ngày 28 tháng 9 năm 2014:
“Tôi đã nói nhiều lần rằng tôi thích sống ở đây, tại Vatican này, vì y như tôi có một người ông khôn ngoan ở nhà. Cảm ơn ngài.”

Đức Thánh Cha đã ta thán trong sự lãng quên và bạo lực đối với người già và ngài giải thích rằng kinh nghiệm của ông bà là điều không thể thay thế.

7. Ân cần trìu mến
Đức Thánh Cha Phanxicô, ngày 28 tháng 9 năm 2014:
“Một trong những điều tốt đẹp nhất trong đời sống, trong gia đình, trong cuộc sống của chúng ta, là vuốt ve một đứa trẻ và chính mình được ông hay bà vuốt ve chăm sóc.”  

Đức Thánh Cha cho thấy lời nói của mình bằng hành động. Trong những buổi triều yết chung, các cuộc họp, và các chuyến đi, Đức Thánh Cha không bao giờ bỏ lỡ một cơ hội nào để được chào đón những người già hoặc để lắng nghe họ.

Jos. Tú Nạc, NMS

Tháng 3 năm 1939, cha Romain Guillauma, một đan sĩ người Pháp, quyết định lập dòng tại Huế, và vẫn duy trì sở Miévelle làm nơi nghỉ chân (sở đất này sẽ bán lại cho các nữ tu Phan sinh vào năm 1954).

Ngày 10-6-1940, thánh lễ đầu tiên được cha Romain cử hành trong ngôi nhà tranh vừa dựng xong gần chân đồi Ðức Mẹ, đánh dấu ngày thành lập Ðan viện Thiên An, trước sự hiện diện của cha Corentin. Cha Romain chọn Thánh Tâm Chúa Giêsu làm quan thầy Ðan viện Thiên An. Nhờ cha Romain được mời đi giảng nhiều nơi, và cha Corentin đi học tiếng Việt ở Loan Lý, nên chẳng những nhiều anh em ở Huế, ở Loan Lý, mà còn ở trong Nam, ngoài Bắc đã tìm đến xin tu. Trong 3 năm đầu mọi người đều sống ở ngôi nhà tranh. Và vào những lúc trời mưa, cóc, nhái, rắn rết thích di tản vào nhà sống chung với người, lắm lúc chui vào tạm trú trong giày dép làm các thân chủ lắm khi phải nhảy đựng lên khi buổi đêm dậy đọc kinh đêm, hay buổi sáng thức dậy xỏ chân ngay vào giày hoặc dép.

Ngày 23-10-1943, làm phép và khánh thành nhà nguyện và ngôi nhà ở 3 tầng, có 28 phòng. Ða số vật liệu xây cất 2 ngôi nhà này được khai thác tại chỗ: đá, gỗ thông và gạch. Hai tầng lầu để ở, còn tầng trệt làm phòng cơm.

Ngày 17-10-1945, cha Benoit Nguyễn Văn Thái được thụ phong linh mục sớm hơn dự định, phòng hờ các cha Tây bị quân Nhật bắt.

Tháng 10-1946, nhà mẹ yểm trợ cho Ðan viện Thiên An thêm 3 linh mục và 3 thầy sáu: Cha Yves (em ruột cha Corentin), cha Arnoul, cha Urbain, thầy Lazare, thầy Raphael và thầy Bède. Từ đây Thiên An có đủ giáo sư để đào tạo đan sĩ giáo sĩ tại chỗ.

Tháng 3 năm 1952, cha Benoit Nguyễn Văn Thái được bầu làm bề trên Thiên An (là bề trên người Việt Nam đầu tiên); năm 1958, cha Anselmô Nguyễn Ngọc Ngãi được bầu làm bề trên; năm 1961 cha Benoit Thái lại được bầu làm bề trên; đến năm 1968, ngài thôi chức bề trên và sau đó khoảng một tháng, ngài bị trúng hỏa tiễn tại Sài Gòn và qua đời ngày 28-5-1968.

Năm 1956, khởi công xây dựng ngôi nhà ở 3 tầng thứ II bằng bê tông. Hai tầng trên có 38 phòng, tầng trệt có 2 phòng lớn, để làm thư viện và phòng hội.

Năm 1965, Ðức Tổng Giám mục Philipphê Nguyễn Kim Ðiền chủ sự lễ làm phép nhà thờ hầm và các bàn thờ đá. Ðây cũng là ngày khánh thành nhà thờ hầm, mừng ngân khánh thành lập Ðan viện Thiên An, lần đầu tiên các đan sĩ không linh mục khấn trọng thể.

Ngày 25-2-1968, biến cố Mậu Thân: Ðan viện Thiên An bị dội bom và pháo kích. Bề trên cho lệnh: "Mạnh ai nấy chạy". Cộng đoàn Thiên An tự động phân nhiều nhóm rời khỏi Ðan viện, rồi qui tụ tại Phú Lương, sau đó vào Ðà Nẵng, tạm trú tại ngôi trường tiểu học của các Soeurs Saint Paul, ở Sao Biển (2 tháng). Trong cuộc chạy loạn này, cha Urbain David và cha Guy Dupont de Compiègne bị mất tích và hơn một tháng sau mới tìm thấy xác.

Tháng 4 năm 1968, cha Thomas Châu Văn Ðằng được chỉ định làm bề trên quản trị thay thế cha Benoit Nguyễn Văn Thái.

Ngày 25-4-1968, Cộng đoàn Thiên An rời Ðà Nẵng trở về Huế, nhưng phải tá túc tại Dòng Kín Huế, vì nhà cửa ở Thiên An bị hư hại nặng, không còn một tấm ngói nào trên mái. Ở Dòng Kín, nhưng ngày ngày vẫn lên Thiên An dọn dẹp và sửa chữa.

Tháng 11-1968, toàn thể cộng đoàn Thiên An "hồi hương". Năm 1969, cha Ta-đê được phái vào Nam, tìm đất lập nông trại để yểm trợ cho Thiên An đang kiệt quệ vì cuộc chiến Mậu Thân. Cha Ta-đê đã kiếm được đất ở Long Thành, ở cây số 47 đường đi Vũng Tàu. Sau này trở thành Ðan viện Thiên Bình, và tự trị từ năm 1988.

Năm 1972, chiến tranh Quảng Trị, "mùa hè đỏ lửa" , Thiên An di tản lần II: Anh em khấn trọng vào Ðà Nẵng dưới sự hướng dẫn của cha Corentin. Kinh viện và Tập viện vào Sài Gòn dưới sự hướng dẫn của cha Thomas Châu Văn Ðằng, bề trên, và cha Marian Phương, tập sư. Ðược bà Cúc hiến một sở đất ở Tam Hà, Thủ Ðức, hai cha bề trên và tập sư liền cho xây dựng nhà cửa với ý định mở một học viện. Sau này trở thành Ðan viện Thiên Phước, được tự trị từ năm 1988.

Tháng 3 năm 1975, cộng đoàn Thiên An di tản vào Ðà Nẵng lần thứ ba, hai tuần sau trở lại Thiên An.

Năm 1984, cha Thomas Châu Văn Ðằng xin từ chức bề trên, và trao quyền cho cha Stéphane Huỳnh Quang Sanh.

Năm 1988, các Ðan viện Biển Ðức Việt Nam, kết thành tỉnh dòng mới, tách khỏi tỉnh Pháp và cha Ta-đê, Bề trên Ðan viện Thiên Bình, được cha Ðan phụ Chủ tịch Denis Huerre chỉ định làm đan phụ Ðan viện Thiên Bình, kiêm chức giám tỉnh dòng Việt Nam.

Năm 1993, cha Stéphane Huỳnh Quang Sanh, bề trên Ðan viện Thiên An được bầu làm giám tỉnh tỉnh dòng Biển Ðức Việt Nam.

Ngày 12-8-1994, khởi công xây cất quần thể kiến trúc bên trên nhà thờ hầm, gồm: nhà tĩnh tâm, nhà nguyện và tháp chuông.

Tháng 4 năm 1998, cha Stéphane Huỳnh Quang Sanh được bầu làm Ðan phụ.

Ngày 27-8-1998, lễ Chúc phong Ðan phụ cho cha Stéphane Huỳnh Quang Sanh, đồng thời khánh thành nhà nguyện, nhà tĩnh tâm và tháp chuông.

Tính đến ngày 20/2/2001, Ðan viện Thiên An hiện đang có 3 linh mục, 13 đan sĩ, một số tập sinh và thỉnh sinh. 


Theo Dòng Thánh Tâm Huế

Giữ Đạo tại tâm / khép kín hay Đạo hình thức / cảm giác?

Cách thế giữ đạo của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi dân tộc có khác nhau tuỳ theo nhân cách tính, tâm tính, lòng đạo của mỗi người. Thêm vào đó cách giáo dục trong gia đình, cách dạy giáo lí tại nhà thờ hoặc văn hoá mà người ta chịu ảnh hưởng, nhất là từ tuổi thơ ấu, thiếu niên cũng có ảnh hưởng đến việc giữ  đạo của mỗi cá nhân..
Giữ đạo tại tâm/khép kín.
Nghe những người không đến nhà thờ đọc kinh, cầu nguyện, dâng lễ biện minh cho mình rằng họ chỉ cần giữ đạo tại tâm trong lòng là đủ. Họ viện dẫn lời Đức Giêsu nói với người đàn bà xứ Samari: Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc này đây - giờ mà những người thờ phượng đích thực, sẽ thờ phượng Thiên Chúa Cha trong thần khí và sự thật (Ga 4:23) để lí giải cho việc không đến nhà thờ để cầu nguyện và thờ phượng. Họ không ý thức được rằng Đức Giêsu dùng lời Thánh kinh này để trả lời cho người đàn bà khi chị ta thắc mắc về một tranh chấp có tính cách chính trị giữa người Do Thái và người Samari là không biết phải thờ phuợng Chúa ở Giêrusalem hay ở trên núi Gerizim?
Triết gia cũng như thần học gia thường tìm kiếm xem Thiên Chúa ở đâu và hiện diện thế nào trong vũ trụ. Người ta cho rằng Thiên Chúa hiện diện khắp nơi, nhưng họ cũng dành những cách thế và những nơi chốn đặc biệt cho Thiên Chúa ngự trị. Trong thời Cựu ước, đền thờ và hòm bia giao ước được coi là những nơi ngự trị đặc biệt của Thiên Chúa như Chúa phán với vua Salômôn: Ta đã chọn và thánh hoá nhà này, để muôn đời danh Ta ngự tại đây (2Sb 7:16; 1V 9:3)). Ðó là lí do tại sao Đức Giêsu tỏ ra khó chịu với những người đổi tiền bạc quanh Đền Thờ vì họ đã biến nhà Chúa thành nơi buôn bán (Ga 2:16). Trong Tân ước, thánh đường có nhà trạm hay nhà chầu là nơi Mình thánh Chúa Kitô ngự. Chúa Giêsu là Thiên Chúa cũng hiện diện khắp nơi, nhưng đặc biệt Chúa Giêsu hiện diện trong Bí tích Thánh thể nơi nhà trạm. Ðó chính là thánh đường Chúa Giêsu ngự trị, như Người nói đến (Ga 2:21).
Thánh đường hay nhà thờ là biểu hiệu của hai sự việc quan trọng. Trước hết thánh đường là biểu hiệu của sự hiệp nhất và cộng đồng (1), qui tụ giáo dân lại trong một Nhiệm thể Màu nhiệm của Ðức Kitô, để cầu nguyện, thờ phượng, cảm ta và xin ơn. Thánh đường còn là biểu hiệu của sự tiếp nối và truyền thốngcó liên kết với quá khứ và cùng nhau hướng về tương lai (2) để đối phó với những đổi thay và thách đố mới trong xã hội và  Giáo hội. Nhìn về quá khứ, chẳng hạn giáo xứ mà người tín hữu thuộc về đuợc thiết lập năm này năm nọ do cha nọ cha kia sáng lập. Nhà thờ giáo xứ được xây dựng thời cha  Cột, cha Kèo, v.v...
Có những người cho rằng Thiên Chúa hiện diện khắp mọi nơi nên họ không cần phải đến thánh đường để cầu nguyện và thờ phượng. Tuy nhiên họ phải nhận thức rằng, loài người có xác nên cần những biểu hiệu bên ngoài để khơi dậy những tâm tình đạo đức bên trong. Loài người cũng cần những biểu hiệu đạo giáo để đưa họ vào thế giới thần linh và để khơi dậy những tâm tình thiêng liêng. Nếu là thiên thần, loài người không cần biểu hiệu. Còn loài người có thân xác thì lại cần biểu hiệu như thánh đường, bàn thờ, tượng ảnh, hoa nến, đèn điện, hương khói để giúp đi vào thế giới linh thiêng. Loài người cũng cần những tác động phụng tự như chắp tay, khoanh cánh, cúi đầu, phủ phục.. trong việc thờ phượng để khơi dậy đức tin và tâm tình đạo đức bên trong. Do đó người chủ trương giữ đạo tại tâm, không cần đến thánh đường để cầu nguyện và thờ phượng, là lừa dối mình vì không có được những biểu hiệu để giúp khơi dậy tâm tình nội tại; cũng không có được sự thúc đẩy của người khác cho việc thực hành đức tin..
Đức tin của người tín hữu không phải chỉ thuộc lãnh vực tư riêng, nhưng cần phải làm chứng và chia sẻ. Trong Thánh kinh Cựu ước, học trò theo học các thày ráp-bi Do thái giáo được gọi là môn đệ. Trong Thánh kinh Tân ước, những người nghe theo lời Chúa dạy và sống theo đường lối Phúc âm cũng được gọi là môn đệ. Trong số các môn đệ, có mười hai người thân tín đi theo Ðức Giêsu được gọi là tông đồ (Mt 12:2-4; Mc 3:16-19; Lc 6:13-16, Cv 1:13).
Theo nghĩa hẹp thì linh mục và tu sĩ thường là thợ gặt cánh đồng truyền giáo. Tuy nhiên theo nghĩa rộng thì tất cả mọi người tín hữu đều là thợ gặt đồng lúa của Chúa. Qua Bí tích Rửa tội, người tín hữu được gọi để sống đời sống đức tin. Qua Bí tích Thêm sức, người tín hữu được gọi để làm chứng cho đức tin. Như vậy mỗi người tín hữu đều là môn đệ của Đức Kitô. Ðời sống của người môn đệ phải là phản ảnh đức tin và là chứng nhân cho đức tin họ đã lãnh nhận.
Ðến thánh đường thờ phượng là một cách thế làm chứng cho đức tin. Khi thờ phượng công cộng nơi thánh đường thì người có đức tin yếu sẽ được nâng đỡ, khuyến khích do người có đức tin mạnh. Ðến thánh đường thờ phượng, người tín hữu được bổ dưỡng và tăng sức bằng lời Chúa và Mình thánh Chúa. Khi kiệt sức về đàng thiêng liêng, họ lại đến nhà thờ để được bổ dưỡng và tăng sức bằng lời Chúa và Mình thánh Chúa. Theo thánh Giacôbê thì: Đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết (Gc 2:17).
Praying_community
Hình Internet
Đức tin của người công giáo vừa dựa trên lí trí, vừa dựa trên tình cảm. Nếu đức tin chỉ dựa trên lí trí mà thôi, thì đời sống đức tin sẽ trở nên trừu tượng, lạnh lùng, khô khan và cằn cỗi. Ðời sống đức tin dựa trên tình cảm được biểu lộ qua lòng đạo đức bình dân như việc tôn thờ Mình thánh Chúa trong giờ chầu Thánh thể, việc suy gẫm đàng thánh giá,  việc cầu nguyện tạ ơn và xin ơn, việc tham dự vào các á bí tích như làm phép lành phục vụ cộng đoàn, làm phép lành trên người, trên nơi chốn, trên sự vật; việc tôn sùng Mẹ Maria và các thánh như hôn kính ảnh tượng và những cách thế người công giáo bầy tỏ đức tin như qùi gối, chắp tay, cúi đầu, làm dấu thánh giá.. Ðó là những biểu hiệu để giúp người tín hữu khơi dậy và duy trì đức tin.
Như vậy đời sống đức tin của người công giáo được hỗ trợ một cách tối đa: bằng lời bầu cử của Mẹ Maria và các thánh, bằng việc người tín hữu cầu nguyện và nâng đỡ đức tin của người khác. Nếu vào nhà thờ công giáo mà người ta cảm thấy ấm cúng là vì họ cảm thấy được bao bọc, ấp ủ và che chở qua sự hiện diện của Bí tích Thánh thể và sự hiện diện của Mẹ Maria và các thánh dưới hình thức tượng ảnh với những đèn nến lung linh và hoa lá trang hoàng làm cho bầu khí sống động.
Nhà thờ hay thánh đường là trung tâm điểm của đời sống đức tin của người công giáo. Nhà thờ là nơi người tín hữu thường lui tới để cầu nguyện và thờ phượng hằng tuần hoặc hàng ngày, để nghe lời Chúa và rước Mình thánh Chúa. Ngoài giờ cầu nguyện và thờ phượng công cộng, người tín hữu còn đến nhà thờ để cầu nguyện riêng tư. Khi mẹ Têrêsa thành Calcutta được hỏi sao bà có đủ nghị lực để tiếp tục việc phục vụ trẻ em nghèo đói bên Ấn độ một cách liên tục và hăng say như vậy? Bà trả lời bà được sức mạnh nơi Chúa Thánh thể và bà cầu nguyện hằng giờ trước Mình Thánh Chúa ngự. Có những người tín hữu khác cũng tìm đến nhà thờ cầu nguyện riêng để được sức mạnh và niềm an ủi. Họ ngồi đó một mình hàng giờ đồng hồ trong góc xó nhà thờ, chiêm ngắm sự hiện diện của Chúa trong phép Thánh thể và để cho lòng mình nói với Chúa.
Thánh đường hay nhà thờ còn là nơi mà người tín hữu đến để lãnh nhận các bí tích như bí tích rửa tội, rước lễ lần đầu, thêm sức, cưới hỏi, chịu phép xức dầu thánh. Và khi nằm xuống vĩnh viễn thì xác người tín hữu lại được mang đến nhà thờ để được cử hành thánh lễ an táng. Như vậy có thể nói người tín hữu được sinh lại trong nước và Thánh thần ở trong nhà thờ và khi chết, thi thể lại được mang đến nhà thờ để được làm lễ an táng.
Không đến nhà thờ đọc kinh, dâng lễ cũng có thể là do bất bình với linh mục sở tại, nghĩa là ‘giận cá băm thớt’. Có người giận linh mục này thì đi nhà thờ khác; có người giận một linh mục thì bỏ luôn nhà thờ, nại đến chủ trương giữ đạo tại tâm để bào chữa cho mình và rồi cứ giữ đạo tại tâm mãi cho tới lúc không còn gì để giữ nữa.
Giữ đạo hình thức/cảm giác.
Tuy nhiên có những cá nhân lại để cho hình thức/cảm giác điều khiến đời sống đức tin của họ, nghĩa là khi cảm thấy vui, thích thú thì họ đến nhà thờ đọc kinh, cầu nguyện, dự lễ. Họ là loại người nhanh chân tìm đến những nơi mà người ta cho rằng có hiện tượng lạ về đạo giáo xẩy ra. Họ đi đến những đám tụ tập hay họp mặt về tôn giáo là nơi họ có thể bầy tỏ cảm giác bằng cách khóc lóc thảm thiết, hay nắm tay hoặc ôm nhau để được nâng đỡ về phương diện tình cảm.
Khi ước muốn có cảm giác mà không được toại nguyện, họ đổ lỗi cho đạo giáo vì đã không cung ứng cho họ cảm giác. Và họ đòi Chúa làm phép lạ cho họ tin, trước khi họ đặt tin tưởng. Ước mong quá nhiều cảm giác đạo giáo, hay tuỳ thuộc quá nhiều vào cảm giác đạo giáo là dấu hiệu chưa trưởng thành về đời sống đức tin.
Lại có những cá nhân cũng như dân tộc do tâm tính hay do ảnh hưởng từ ngoài vào lại ưa giữ đạo hình thức bề ngoài. Họ có khuynh hướnh hay hỏi như là lễ hôm nay có gì đặc biệt không? Có giám mục hay linh mục khách nào về dâng lễ không? Có ca đoàn hát lễ không? Có rước sách không? Có dâng hoa không? Có kèn trống không? Có ngắm đứng không? Nếu không, thì họ ở nhà, không đi nhà thờ. Nói đến ngắm đứng thì người viết không có ý tẩy chay việc ngắm đứng đâu. Tuy nhiên đi nghe ngắm đứng, ngắm Mười lăm Sự Thương khó Chúa, hoặc ngắm Dấu đanh, không phải để nghe xem ai ngắm giọng Bắc, ai ngắm giọng Trung, ai ngắm giọng Nam, ai ngâm cung triều, ai ngâm cung dòng, ai ngắm hay hơn ai, nhưng là để suy niệm về việc Chúa chịu nạn chịu chết vì tội lỗi loài người. Việc suy niệm về cuộc khải hoàn của Chúa vào thành Giêrusalem, về cuộc khổ nạn của Chúa trong Vườn cây dầu, về cuộc khổ hình thập giá chỉ mang lại ý nghĩa, nếu người ta biết đem ra áp dụng vào đời sống. Nếu thiếu lòng mến và những yêu tố nội tâm thúc đẩy khi làm việc đạo, thì người tín hữu cần nghe lời Đức Giêsu cảnh giác nhóm người Pharisêu về tính giả hình (Mt 23:28; Lc 12:1) và lòng đạo đức giả của họ (Mt 7:21).
Khuynh hướng ưa tổ chức mừng kỉ niệm dịp nọ kia cho lớn và rùm beng có thể là do mặc cảm: không có thực lực nên muốn bầy ra cho có, hoặc mặc cảm ‘dân nghèo học làm sang’.. Khuynh hướng ưa tổ chức nhấn mạnh đến những hình thức bên ngoài cũng có thể do ảnh hưởng từ ngoài vào - từ một quốc gia nào đó – được giới thiệu vào bản xứ. Chẳng hạn những cách biểu lộ lòng đạo đức bằng việc rước sách, kèn trống, những màn ‘bắt quân dữ’ trong Tuần Thánh tại một số giáo phận ở miền Bắc Việt, tại Phi Luật Tân và Trung Nam Mĩ, thì cũng là do ảnh hưởng của những nhà truyền giáo từ một quốc gia kia đem đến.
Vào dịp tổ chức mừng Đại Lể 1000 năm Thăng Long – Hà Nội từ 1-10/10/ 2010,  báo chí trong Nước gồm Báo Lao Động (số ra ngày 14/10/2010), báo Công An Nhân Dân (xuất bản 16/10/2010), cũng như ngoài nước và giới blogger đưa ra những nhận xét được tóm gọn bằng những từ ngữ tựu trung như: phô trương, tốn kém, lãng phí, loè loẹt, vụng về, lai căng ‘Tầu’, kéo dài quá đến cả 10 ngày là không thiết thực, không nhắm đến thực tại của cuộc sống người dân nhất là ở miền quê vẫn còn nghèo đói. Trong những ngày Đại Lễ thì mưa lũ lụt tại một số tỉnh miền bắc Trung Phần, gây tử vong cho gần trăm sinh mạng, cuốn đi hàng trăm túp nhà tranh vách đất khiến người dân phải đói rét, chống chọi với lũ lụt, lo sợ cho mạng sống. Có những nạn nhân đứng trên mái nhà hay luồn tay ra khỏi mái kêu cầu được cứu trợ mà chương trình tổ chức vẫn tiếp diễn như không có gì xẩy ra, chỉ giảm phần đốt pháo bông vào ngày cuối cùng. Có nhà báo nhắc lại kiểu nói của báo chí về việc phô trương là do kết quả của: ‘Văn hoá lùn, nên cái gì cũng phải muốn thật to, thật hoành tráng, thật xa xỉ, thật nhiều theo kiểu có bao nhiêu thì phô ra bằng hết’.
Rồi đến việc tổ chức Đại Hội Dân Chúa 2010 ngày 21-25/11/2010 mừng Năm Thánh 2010, kỉ niệm 350 năm thiết lập Giáo Phận Đàng Trong và Đàng Ngoài tại Việt Nam năm 1659 và 50 năm thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam năm 1960 diễn ra có vẻ lớp lang thứ tự theo sát chương trình. Tuy nhiên cũng không thiếu lời phê bình như ‘ồn ào’, đại diện giáo dân thì quá khiêm tốn và những đề tài tham luận lại do đa số hàng giáo phẩm trình bày để học hỏi thì có vẻ cao siêu, xa vời, không thiết thực với giáo dân. Rồi chương trình văn nghệ không phải loại bỏ túi để giải lao cho khoan dãn sau hàng giờ ngồi nghe thuyết trình/tường trình, mà lại dành nhiều giờ tập dượt với những màn hoá trang phải mua sắm và có sửa soạn trước.
Còn chương trình Đại Lễ bế mạc Năm Thánh tại La Vang 4-6/01/2011 thì lại nhấn mạnh đến hình thức trình diễn, phô trương. Phải chăng kiểu nói ‘văn hoá lùn’ mà báo chí bàn đến trong việc tổ chức Ngàn Năm Thăng Long cũng đã được áp dụng trong việc tổ chức mừng Năm Thánh 2010 tại đây? Người đến dự và người xem Đại Hội Dân Chúa cũng như Đại Lễ bế mạc Năm Thánh trên mạng thấy có vẻ hoành tráng, đẹp mắt, vui tai. Tuy nhiên người ta cũng thấy có vẻ chú tâm đến việc săn đón, chăm sóc thượng khách đạo đời. Chẳng hạn việc tặng hoa cho thượng khách mà để cho mấy bé gái tặng thì người được tặng hoa cũng thích khi thấy những vẻ đơn sơ, hồn nhiên, dễ thương của các em, thay vì để cho người lớn tặng hoa người lớn cùng phái. Việc nhấn mạnh đến hình thức trình diễn bề ngoài chỉ làm lu mờ những cố gắng kiến tạo và giúp cảm nghiệm bầu khì linh thiêng. Còn chính chương trình Đại Lễ xem ra thiếu yếu tố chinh phục lòng người, không biết có đánh động được tâm hồn và thay đổi được tâm trạng và đời sống nội tâm của người giáo dân tham dự không? Nếu không thì có phải chương trình đại lễ nhấn mạnh đến hình thức trình diễn và những mâu thuẫn trong lời giảng dạy và cách sống đạo của người giảng và việc đón tiếp cũng như nơi ăn chốn ở tại La Vang trong mấy ngày Đại Lễ quá khác biệt giữa giáo dân và hàng giáo sĩ-phẩm chăng? Một linh mục VN có cách truyền giáo bình dân được người ngoài công giáo gọi một cách thân tình là ‘Anh Tám’ H. Trong một bài giảng Chúa Nhật, Anh Tám H. gọi việc phô trương về đạo là ‘khoe’ đạo. Theo nhận xét của Anh Tám linh mục thì việc khoe đạo chỉ làm cho người ngoài đạo ‘ghét’ đạo mà thôi (3).
Làm sao tránh việc giữ đạo tại tâm/khép kín?
Phần này được tóm gọn vì không phải là phần chính của bài viết. Đây phải là một tiến trình dạy giáo lí lâu dài trong gia đình, giáo xứ và học đường. Trong những giờ huấn đức hay dạy giáo lí nên đưa ra những ví dụ cụ thể như nói: Trong gia đình khi có tiệc mừng những ngày kỉ niệm hôn nhân của bố mẹ, mừng ngày Tết, ngày sinh nhật của mỗi thành phần trong gia đình, thì bố mẹ mong muốn con cháu tham dự để chúc mừng, để chia vui và để gắn bó tình nghĩa gia đình. Trong bữa tiệc lễ ngày Chúa Nhật cũng vậy, người tín hữu cần hiện diện để thờ phượng Chúa cách công cộng để có thể chia sẻ niềm tin. Nếu một người chủ trương giữ đạo tại tâm ở nhà thì người khác không thấy gương sống đức tin của họ mà noi theo. Giáo xứ cần tổ chức những buổi học hỏi để giúp giáo dân hiểu tại sao cần đến nhà thờ để cầu nguyện và thờ phượng hầu hoàn thành bổn phận người con thảo và để làm chứng cho đức tin mà họ đã lãnh nhận theo lời Chúa dạy: ‘Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy’(Mt 10:8).
Làm sao để tránh việc giữ đạo hình thức/cảm giác?
Phần này cũng được tóm gọn vì không phải là phần chính. Ở đây cần bắt đầu khi con cháu Rước Lễ lần đầu, tới khi chịu phép Thêm Sức, cưới hỏi, phụ huynh cũng như giảng viên giáo lí và giáo sĩ cần dạy con em biết cầu nguyện riêng tư trong tâm hồn thay vì chỉ học thuộc lòng, bằng những lời cảm tạ, xin lỗi chứ không phải chỉ biết xin xỏ mà thôi. Rồi cần giúp con em sửa soạn tâm hồn bên trong chứ không phải chỉ để ý sắm quần áo, mua bông hoa để tạo ra hiện tượng pháo bông trong việc ăn mừng và chụp thật nhiều hình kỉ niệm. Đốt pháo bông trông thì đẹp nhưng lại rất mau tàn. Do đó mà con cháu không ghi được ấn tượng thiêng liêng nào vì không cảm nghiệm được niềm tin tôn giáo khi lãnh nhận một bí tích. Không có cảm nghiệm tôn giáo khi lãnh nhận một bí tích, thì khi xem hình chụp cũng chỉ thấy vậy thôi, nghĩa là có thấy hình chụp mà không ghi nhớ được ấn tượng thiêng liêng. Hình chụp chỉ giúp hồi tưởng lại kỉ niệm ngày lãnh nhận một bí tích. Còn kinh nghiệm tôn giáo và ấn tượng thiêng liêng mới kéo dài và giúp cho con tim được vui mừng và hứng khởi trong việc sống đức tin. Và khi có cảm nghiệm về niềm tin tôn giáo rồi thì người ta không cần đặt nặng phần hình thức và đi tìm cảm giác.
Khi tổ chức mừng kỉ niệm ngân khánh, kim khánh hàng giáo sĩ-phẩm hay kỉ niệm hôn nhân, khi tổ chức nghị hội, lễ hội, đại hội, ban tổ chức cần đem ý nghĩa vào mỗi tác động của việc tổ chức ngõ hầu giúp người tham dự tìm ra ý nghĩa của mỗi tiết mục, mỗi tác động phụng vụ chứ không phải tổ chức sao cho rầm rộ bên ngoài mà không gây được ấn tượng thiêng liêng nơi người tham dự. Tổ chức đại hội, đại lễ cho có vẻ hoành tráng và rầm rộ mà thiếu bầu khí linh thiêng và thiếu chiều sâu về đức tin, thì người xem thấy có vẻ đẹp mắt. Và khi thấy người này, nhóm này tổ chức mừng lễ kỉ niệm biến cố nọ kia thì người khác, nhóm khác cũng muốn tổ chức và muốn tổ chức mừng lớn hơn và rầm rộ hơn. Tuy nhiên muốn đánh động tâm hồn và muốn thay đổi cuộc sống, cần làm sao cho người ta thấy những chứng nhân như là những gương sống đức tin, gương hi sinh bác ái vị tha trong đời sống thường ngày - không nhất thiết phải là những gương anh hùng vĩ đại – nhưng là những gương sống đạo của đời thường như là ánh sáng và muối đất mà Phúc âm nói đến (Mt 5:13-14). Nếu không, thì những màn trình diễn trong việc tổ chức có thể chỉ là phản chứng và những bài thuyết trình nặng phần lí thuyết suông mà thiếu yếu tố làm chứng để chinh phục lòng người, thì người xem và nghe cũng chỉ nghe và thấy vậy thôi.
- Lm Trần Bình Trọng
______________________________
(1). Liturgical Commission, Diocese of Lansing, Lansing, Michigan. Oct. – Dec. 1977, trang 313.
(2). Như trên


Năm nọ, một linh mục được mời tham dự buổi họp về tôn giáo do Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Quận 5 tổ chức. Trong buổi họp, khi nghe báo cáo viên thông báo thành tích của các đơn vị tôn giáo như nhà thờ họ Trần, nhà thờ họ Huỳnh, nhà thờ họ Lý, nhà thờ… Linh mục ấy ngồi bên cạnh tôi hỏi: “Sao Quận 5 có nhiều nhà thờ quá vậy?” Tôi mới nói: “Đó là những nhà ‘thờ kính tổ tiên’ thôi, thường gọi là ‘nhà thờ họ’ (Theo cách gọi chính thức của người Hoa là Trần thị, hay Huỳnh thị, hay Lý thị tông thân hội hay tông từkhông phải nhà thờ Công Giáo”. Vậy nhà thờ có nghĩa gì? Nơi thờ phượng Thiên Chúa gọi là thánh đường được không?
Nhà thờ Hội An (xây dựng năm 1965)-
Là nhà thờ của giáo xứ lâu đời nhất Việt Nam (thành lập năm 1615).
1. Nghĩa của nhà, thờ.

Nhà: có bốn chữ Nôm: 家, 伽, 茄, 茹. Chữ thứ nhất 家mượn chữ gia (家) của Hán tự, 3 chữ sau là hài âm. Trong Dictionarium anamitico-latinum, của P.J. Pigneaux, 1772, tr. 358: Nhà là chữ 茹 (domus). Nghĩa là: (dt.) (1) Mái che làm chỗ trú trọ: Nhà cao cửa rộng. (2) Phòng, buồng: Nhà khách; Nhà ngủ. (3) Người trong nhà:Cả nhà ngồi ăn. (4) Họ thông gia trong đám cưới: Nhà trai nhà gái. (5) Tiếng vợ chồng nói về bạn đời: Nhà tôi. (6) Triều đại: Nhà Trần. (7) Địa vị trong xã hội: Nhà sang; Nhà nghèo. (8) Các cơ quan cai trị: Nhà nước. (9) Địa danh: Nhà Bè. (tt.) (10) Của ta: Ao nhà; Nhớ quê nhà. (quán từ) (11) Quán từ đi trước chức nghiệp: Nhà báo; Nhà buôn; Nhà nông.

Thờ: có sáu chữ Nôm: 祠, 徐, 蜍, 於, ��, ��. Hai chữ đầu là chữ từ (祠, 徐), chữ thứ ba là chữ thừ (蜍), chữ thứ tư là chữ ư (於) mượn của Hán tự, hai chữ cuối được tạo ra. Trong Dictionarium anamitico-latinum, của P.J. Pigneaux, 1772, tr. 500: Thờ là chữ 蜍 (colere, adorare). Nghĩa là (đt.) (1) Kính thần minh: Thờ Trời khấn Phật. (2) Kính nhớ người chết: Thờ chồng nuôi con.

2. Nghĩa của thánh, đường

Thánh : Có hai chữ Hán: 聖, (圣), 清 : Ở đây là chữ 聖này. Thánh là gì? Mạnh Tử nói: “Khả dục chi vị thiện, hữu chư kỷ chi vị tín. Sung thật chi vị mỹ, sung thật nhi hữu quang huy chi vị đại, đại nhi hoá chi chi vị thánh”.Nghĩa là: Người mà hành vi nhân phẩm đáng yêu, đáng kính, gọi là thiện. Người làm thiện theo lương tâm và bản tính không cưỡng ép và không giả trá gọi là tín. Người mà lòng thiện đầy đủ phát lộ ra khắp thân thể và mỗi cử động đều hợp ý lành, gọi là mỹ. Người có mỹ đức đầy đủ và làm nên sự nghiệp, khiến cho cái mỹ đức mình toả sáng trên đời, gọi là đại. Đã là bực đại nhân, lại đứng ra hoằng hoá cho đời, khiến cho thiên hạ đều quay về nẻo thiện, gọi là thánh.

Chữ thánh (聖) gồm phần dưới là chữ nhâm (壬), nguyên gốc của chữ nhâm (壬) là chữ nhân (人); phần trên là chữ nhĩ (耳) và chữ khẩu (口); hàm ý: thánh là người thông sáng: thính tai, lợi khẩu. Trong cổ văn, “thánh” và “thính” là cùng một chữ: 聽. Chữ thánh (聖) có những nghĩa này: (dt.); (1) Đối với người đời thường, chỉ những người đạo đức: thánh nhân; (2) Những người tài giỏi tột bực về một việc nào đó cũng gọi là thánh, như Lý Bạch giỏi uống rượu, người ta gọi ông là tửu thánh; (3) Họ Thánh; (đt.); (4) Làm cho trở thành thánh; (5) Tinh thông: Đỗ Phủ thánh ư thi (Ông Đỗ Phủ giỏi làm thơ); (tt.); (6) Thông minh; (7) Tài giỏi; (8) Tôn xưng những gì thuộc về Đức Khổng Tử: Khổng thánh đản; (9) Tôn xưng những gì thuộc về vua: Thánh chỉ; (10) Thuộc về thần thánh: Thánh mẫu, thánh đản; (11) Thuộc về Đấng tối cao ; (12) (Nghĩa Nôm): Âm thanh dễ nghe: thánh thót.

Đường: có nhiều chữ Hán: 堂, 塘, 唐, 糖, 醣, 餹, 螳, 赯, 棠, 餳 (饧), 搪, 溏, 螗, 樘. Trong trường hợp này là chữ 堂, thuộc loại hình thanh, có bộ 土 (thổ), và chữ 尚 (thượng) là âm, đồng thời là tượng hình, nghĩa là cao thượng, tao nhã. 尚 (thượng) cộng với 土 (thổ), nghĩa là cung điện tao nhã. Nguyên nghĩa của chữ là phòng chính trong hoàng cung nơi cử hành nghi lễ trọng đại.
Diễn tiến của chữ đường: (1) Nghĩa gốc: (dt.) Phòng chính của hoàng cung: Điện đường, chính đường. Cho ra nghĩa (2) (tt.) Chính thức, sang trọng: Đường đường chính chính (đàng hoàng). Đồng thời cho ra các nghĩa 3, 4, 5: (3) (dt.) Phòng tế tổ chính của đại gia đình: Ngũ đại đồng đường (năm thế hệ cùng ở chung). (4) (dt.) Phòng rộng dùng cho hội họp: Công đường, hợp đường (phòng chung). (5) (quán từ) Dùng cho một không gian rộng: Nhất đường khoá. Từ số 3 cho ra nghĩa (6) rộng hơn: (dt.) Anh em cùng một ông tổ: Đường muội, đường huynh (em họ, anh họ).

Ngày nay đường có nghĩa (dt.) (1) Phòng chính trong nhà: Từ đường. (2) Hoàng cung nội điện hai mặt Nam Bắc: Minh đường (Nam). (3) Anh em cùng một ông tổ: Đường huynh đệ (anh em họ). (4) Tôn xưng mẹ người khác: Lệnh đường. (5) Chỗ núi bằng phẳng cũng gọi là đường. (6) Toà án: Công đường. (7) Cơ quan làm việc từ thiện: Vạn thiện đường. (8) Cung điện: Triều đường 朝 堂. (9) Phòng có công dụng riêng: Thực đường(phòng ăn); Dục đường (phòng tắm). (10) Người hầu bàn (cổ văn): Đường quan (11) Họ Đường. (12) Cửa hiệu: Hồi Xuân Đường. (tt.) (13) Sang trọng, rực rỡ: Đường hoàng; Đường đường chính chính. (quán từ) (14) Cả bộ: Nhất đường gia cụ (một bộ đồ dùng trong nhà).

3. Nhà thờ.

Theo các từ điển, nhà thờ chỉ có hai nghĩa: (1) Nhà thờ là “nhà để mà thờ phượng” Nhà thờ tổ; Nhà thờ họ(2) Cũng gọi là giáo đường hay thánh đường, là nơi các tín hữu thờ phượng Thiên Chúa: Đi lễ nhà thờ.

Theo nghĩa thứ nhất, nhà thờ (A: The cult house; P: La maison de culte) là tiếng gọi tắt của nhà thờ họ hay nhà thờ tổ tiên, Hán Việt gọi là từ đường (祠 堂); A: The ancestral temple; P: Le temple des ancêtres, là một trong những thứ mà chỉ có ở các nơi có đạo Khổng. “Nhà cất riêng hoặc một gian của nhà ở, dùng thờ ông bà .Cụ Phan Kế Bính giải thích: “Nhà thờ - Bao nhiêu con cháu dòng dõi trong một họ lập chung một nhà thờ Thủy Tổ, gọi là mỗ tộc (Trần tộc, Nguyễn tộc v.v.....) từ đường. Nhà thờ ấy chỉ thờ riêng một Thủy Tổ, và khi tế tự thì lấy các tổ tông biệt chi, biệt phái mà phối hưởng. Có họ không có nhà thờ thì xây một cái bàn lộ thiên, dựng bia đá ghi tên thụy hiệu các tổ tiên để khi tế tự thì ra tại đó mà tế. Có họ thì làm nhà thờ để cho chi trưởng nam đời đời giữ hương hoả, chi trưởng tuyệt thì mới truyền sang chi thứ. Có họ thì con cháu luân lưu thờ tổ ở nhà riêng của mình. Những họ về chi khác, cũng có nhà thờ tổ tông trong bản chi, gọi là bản chi từ đường. Nhà thường dân không có nhà thờ riêng thì thờ tại nhà mình ở. Dẫu nghèo cũng có một bàn thờ”.
Nhà thờ chi tổ họ Nguyễn, Vũ Đông, Thái Bình
Theo nghĩa thứ hai, nhà thờ còn gọi là giáo đường (教 堂) hay thánh đường (聖 堂), L: ecclesia; A: church; P: église, là:

- Nơi các tín hữu thờ phượng Thiên Chúa, cầu nguyện và tham dự các nghi thức phụng vụ (x. GL 1214).

- Nơi đặc biệt để con người gặp gỡ Thiên Chúa.

- Nơi đặc biệt để thờ kính Đức Chúa Giêsu hiện diện trong Bí Tích Thánh Thể (x. GLHTCG 2691).

- Tượng trưng cho sự hiện diện của Hội Thánh trong địa phương đó .

Trong tiếng Latin, chữ Ecclesia (viết hoa) có nghĩa là một cộng đoàn tín hữu hay Giáo Hội; còn chữ ecclesia(viết thường) có nghĩa là thánh đường, nhà thờ. Chữ Église trong tiếng Pháp và chữ Church trong tiếng Anh khi viết hoa hay viết thường cũng có nghĩa như vậy. Tự điển ngoài đời thường nhầm lẫn hai thuật từ Giáo Hội và nhà thờ, họ hay dùng từ nhà thờ thay vì Giáo Hội. Các định nghĩa: Nhà thờ là “tổ chức điều hành Đạo Kitô:Những qui định chung của nhà thờ. ” hay “tổ chức nắm quyền cai quản giáo dân: Thế lực nhà thờ. ” hoàn toàn xa lạ với quan niệm của Công Giáo.

Ngày xưa, khi đạo Công Giáo mới được truyền sang Việt Nam, các cộng đoàn tín hữu có tổ chức theo địa dư, thường tụ tập để cầu nguyện và cử hành thánh lễ (khi có linh mục) trong những căn nhà nhỏ được dựng lên dành riêng cho việc thờ phượng Thiên Chúa, tương tự như những nhà thờ tổ, và họ cũng gọi đó là “nhà thờ”hay “nhà thánh” . Paulus Của (1895) cũng gọi “nhà thờ đạo Thiên Chúa” là nhà thánh . Nhưng về sau, thuật từ “nhà thánh” được dành chỉ các “chapel” (P. chapelle) mà ngày nay chúng ta gọi là “nhà nguyện” hay “nguyện đường”, tức là nhà thờ nhỏ, gắn liền với nhà thờ chính của giáo xứ hoặc toà nhà biệt lập nằm trong địa hạt giáo xứ hoặc một phòng dành riêng cho việc phụng tự trong tu viện, bệnh viện, trường học hay tư gia. Tương tự như ở các nước khác, khi Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam tiến đến trưởng thành thì cũng xuất hiện nhiều nhà thờ với các qui mô và vai trò khác nhau, nên cũng có thêm những tước hiệu khác nhau:

- Những nhà thờ có tầm mức từ một ngôi nhà nhỏ đủ đặt bàn thờ đến những ngôi nhà đồ sộ, được xây cất và dâng hiến để tôn kính riêng một vị thánh hoặc một sự kiện lớn trong Đạo, gọi là đền, đền thờ hay đền thánh(santuarium, shrine ). Ví dụ: Đền thánh Antôn, đền thánh Matthêu Lê Văn Gẫm.

- Những nhà thờ chính của giáo phận hay tổng giáo phận, nơi có toà giám mục hoặc toà tổng giám mục cai quản giáo phận đó, gọi là nhà thờ lớn hay nhà thờ chính toà (cathedral). Ví dụ: Nhà thờ chính toà Hà Nội, nhà thờ chính toà Huếnhà thờ chính toà Sài Gòn.

- Những nhà thờ với kiến trúc to đẹp và cổ kính, vì đã có lâu đời hay vì tầm quan trọng của nó, nên đã được Toà Thánh ban cho tước hiệu “Minor Basilica” tức là “Tiểu vương cung thánh đường”. Tại Việt Nam hiện nay có hơn có 5.456 nhà thờ nhưng chỉ mới có 4 nhà thờ được nâng lên bậc (tiểu) vương cung thánh đường đó là nhà thờ Đức Bà (Sai Gòn, được nâng lên vương cung thánh đường năm 1961), nhà thờ La Vang (Quảng Trị, 1961), nhà thờ Phú Nhai (Nam Định, 2008), và nhà thờ Sở Kiện (Hà Nam, 2010). Như vậy, vương cung thánh đường có thể là một nhà thờ chính toà, một đền thờ nào đó hay cũng có thể là một nhà thờ bình thường.

4. Thánh đường.

Tín hữu Công Giáo ở Trung Quốc gọi nơi thờ phượng của mình là thánh đường (nhà thánh) hay Thiên Chúa đường (nhà của Thiên Chúa). Người Công Giáo ở Việt Nam cũng gọi nhà thờ là thánh đường, tức là nhà thuộc về Thiên Chúa, dành cho Thiên Chúa.

Thánh đường là từ Hán Việt, có nghĩa hẹp là “nhà thánh”. Như đã nói ở trên, hiện nay từ “nhà thánh” đã được thay bằng thuật từ “nhà nguyện”. Thánh có nghĩa là thuộc về Đấng tối cao, đường là phòng họp chính và lớn. Thiết nghĩ những nơi thờ phượng nhỏ hẹp nếu gọi là nhà thờ thì thích hợp hơn là thánh đường. “Thánh Đường” có thể sử dụng thay cho thuật từ “nhà thờ” để nói lên tính cách quy mô về kiến trúc, hoặc trang trọng về hình thức, hoặc trong những ngữ cảnh quen thuộc như: Nói “vương cung thánh đường”, chứ không thể nói “vương cung nhà thờ”; nói “nhà thờ chính toà”, chứ không nói “thánh đường chính toà” hay “chính toà thánh đường”.

5. Nơi thờ phượng của các tôn giáo.

Nơi thờ phượng của một tôn giáo thường có cách xưng hô riêng, như:

- Cao Đài gọi là thánh thất. Ví dụ: Thánh thất Mỹ Tho, Thánh thất Đa Phước;

- Đạo Giáo thì gọi là đạo quán. Ví dụ: Trấn Vũ Quán hay đền Quán Thánh; Huyền Thiên Quán hay chùa Huyền Thiên; Đồng Thiên Quán hay chùa Kim Cổ; Đế Thích Quán hay chùa Vua, tất cả đều ở Hà Nội.

- Hồi Giáo gọi là thánh đường, nhà thờhay đền thờ (mosque). Ví dụ: Thánh Đường Al Rahman ở Quận 1, TP. Hồ Chí Minh, được xây dựng sớm nhất (1885) tại Việt Nam; Thánh Đường Al Mubarak ở An Giang, thường được gọi là “chùa Chăm An Giang”.

- Phật giáo gọi là chùa, tự haygià lamVí dụ: Chùa Vĩnh Nghiêm, Việt Nam Quốc Tự, Bát Nhã Già Lam ở Bình Thạnh, Già Lam Cổ Tự ở Phụng Hiệp.

- Tin Lành thì cũng gọi lànhà thờgiáo đường hay thánh đường, nhưng có thêm hai chữ Tin Lành. Ví dụ: Nhà thờ Tin Lành Đà Lạt, thánh đường Tin Lành Khánh Hội (Quận 4), giáo đường Tin Lành tại Trường Xuân, Cát Lâm.

6. Kết luận.

Cha Đỗ Quang Chính (SJ.) giải thích lý do Giáo Hội ở Đàng Trong lúc ban đầu sử dụng từ “Họ” để chỉ các giáo xứ như sau : “Từ Họ theo nguyên ngữ có nghĩa là gia đình, họ hàng, thân thích, và nếu hiểu rộng hơn cũng chỉ các hiệp hội, hội đoàn, phường, có cùng một chí hướng... Khi cha ông ta sử dụng từ Họ là muốn làm nỗi bật sự liên kết chặt chẽ giữa các bổn đạo trong Họ chứ không lỏng lẻo như ở châu Âu. Vì ở đó có thể nói được những cá nhân liên hệ với nhau bằng việc duy nhất là họp nhau tham dự kinh lễ tại nhà thờ trong những ngày giờ nhất định. Trái lại, ở Việt Nam các bổn đạo trong Họ còn liên kết với nhau bằng nhiều cách, trong nhiều tổ chức, sinh hoạt, không phải chỉ tới nhà thờ tham dự kinh lễ mà thôi. Vì thế, Họ là một cơ sở hay nói đúng hơn là một cơ thể thực sự vững mạnh và sống động, mà chính L. Cadière cũng phải nhận xét như thế...”.

Thiết nghĩ, các vị tiền bối đã sử dụng từ Họ để chỉ cộng đoàn tín hữu cư ngụ gần nhau, để nói liên sự kết hợp chặt chẽ giữa bổn đạo với nhau như giữa những người cùng chung huyết thống, dòng họ. Và ở Việt Nam, mối dây họ hàng được nối kết chặt chẽ bằng việc tôn kính tổ tiên, cụ thể qua những việc tế tự tại nhà thờ tổ hay nhà thờ họ. Vì vậy, việc gọi nơi sinh hoạt tôn giáo thường xuyên của các tín hữu, nơi gắn bó các gia đình Công Giáo với nhau cách chặt chẻ như những người trong cùng một Họ, không từ ngữ nào thích hợp hơn là “nhà thờ”.

Trong một số trường hợp, để tránh hiểu lầm “nhà thờ” (Công Giáo) với “nhà thờ họ” hay nhà thờ tổ tiên, thì chúng ta có thể nói rõ là “nhà thờ Công Giáo” cũng như anh em Tin Lành luôn nói rõ là “nhà thờ Tin Lành” vậy.
Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ


“Bài Giảng Chúa Nhật” của Tổng Giáo Phận TP.HCM, số 01/2011 đã giải thích rõ chữ này, bây giờ viết lại ở đây để tiện cho đọc giả khỏi phải truy tìm.
Xem “Bài Giảng Chúa Nhật” của Tổng Giáo Phận TP.HCM, số 05/2006.
可欲之謂善,有諸己之謂信。充實之謂美,充實而有光輝之謂大,大而化之之謂聖。(Mạnh Tử, Tận Tâm chương cú hạ, tiết 24).
Không nên chỉ giải nghĩa thuộc về Thiên Chúa, làm như vậy thì thu hẹp ý nghĩa của chữ. Vì Tin Lành, Chính Thống và Hồi Giáo không bao giờ gọi Đấng Tối Cao là Thiên Chúa.
Huình Tịnh Paulus Của, ĐẠI NAM QUẤC ÂM TỰ VỊ, Rey, Curiol & Cie, Sài Gòn, 1895. nxb. Khai Trí, Sài Gòn, 1974, tr. 730.
Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ, TỰ ĐIỂN VIỆT NAM, nxb. Khai Trí, Sài Gòn, 1970, tr. 1068.
Phan Kế Bính, VIỆT NAM PHONG TỤC, nxb Tổng Hợp Đồng Tháp, 1990, tr. 20.
Tiểu ban từ vựng HĐGMVN, TỪ ĐIỂN CÔNG GIÁO - 500 MỤC TỪ, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2011, tr. 255.
Nguyễn Lân, TỪ ĐIỂN TỪ VÀ NGỮ VIỆT NAM, nxb. TP.HCM, TP.HCM, 2000, tr. 1301.
Bộ Giáo Dục Đào Tạo, Nguyễn Như Ý (chủ biên), ĐẠI TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT, nxb. Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 1999, tr. 1227.
Trong bức thư viết tay (bằng chữ Quốc ngữ) ngày 12/9/1659 của thầy Igesico Văn Tín có đoạn: “những họ hàng nhà ông ấy cùng anh em chung làm quan hãy còn cầu nguyện, đến rầy chửa xong, cùng nhà thờ trong ấy thì nó làm hư hết” - Lm. Đỗ Quang Chính chú thích: “Có lẽ tác giả muốn nói: nhà thờ Công Giáo nơi đó đã bị tục hoá, nhưng nơi đó là nơi nào, thì không rõ” (xemĐỗ Quang Chính, LỊCH SỬ CHỮ QUỐC NGỮ 1620-1659, Ra khơi xb, Sài Gòn, 1972, tr. 96).
Trong tập “Lịch sử nước Annam” viết tay (bằng chữ Quốc ngữ) năm 1659 của Bento Thiện cho thấy nhà thờ Công Giáo được gọi là nhà thánh: “Nghệ An xứ, những nhà thánh thờ Đức Chúa Trời, được bảy mươi lăm nhà thánh. Sơn Nam xứ được một trăm tám mươi ba nhà thánh. Hải Dương xứ được ba mươi bảy nhà thánh. Kinh Bắc xứ được mười lăm nhà thánh. Thanh Hóa xứ được hai mươi lăm nhà thánh. Sơn Tây xứ được mười nhà thánh”. (xemĐỗ Quang Chính, sđd., tr. 129).
Huình Tịnh Paulus Của, sđd., tr. 730.

Lm. Eugène Gouin, MEP, DICTIONNAIRE VIETNAMIEN CHINOIS FRANÇAIS, D’Extrême Orient, Sài Gòn, 1957, tr. 951.
Các đền thờ thời Cựu Ước và đền thờ ngoại giáo thì gọi là templum (A & P: temple).

Đa phần các đạo quán hay am cốc ở Việt Nam chỉ tồn tại đến đầu thế kỷ 20, về sau thì tàn lụi mất dần, chỉ còn là phế tích. Một số đạo quán thì gian chính thờ Tam Thanh nhưng không thu hút bằng gian thờ bên trên, cạnh bên thờ chư Phật và Bồ Tát, kinh thì tụng kinh Phật, cúng kiếng theo nghi thức nhà Phật, cho nên tuy mang danh đạo quán nhưng thật ra nó đã là chùa.

Trong chữ Nôm, chùa 厨được ghi bằng trù厨; trù có nghĩa là bếp, tiếng Hán hiện đại, trù phòng có nghĩa là nhà bếp, nơi ấm áp, yên bình trong mỗi gia đình. Suy rộng ra xã hội, nơi ấm áp, yên bình nhất chính là ngôi chùa. Chùa là nơi người ta được san sẻ, được thoả nguyện về cả vật chất lẫn tinh thần.

Tự (寺) vốn là từ để chỉ cơ quan làm việc của chính quyền thời phong kiến. Tương truyền Hán Minh Đế Lưu Trang (25-75) - vị vua đầu tiên thừa nhận địa vị của Phật giáo ở Trung Quốc - nằm mộng thấy “người vàng” bay qua sân điện, bèn sai sứ giả sang Tây Trúc cầu tìm đạo Phật. Đó là sự kiện năm Vĩnh Bình thứ 7. Ba năm sau, sứ giả trở về với hai tăng sĩ Ấn Độ cùng rất nhiều kinh sách và tượng Phật được thồ trên lưng ngựa trắng. Lúc các tăng nhân cùng kinh, tượng, về đến kinh đô, triều đình chưa chuẩn bị kịp chỗ ở riêng nên cho ở tạm trong Hồng lô tự (một cơ quan trong Cửu khanh). Sau đó nhà vua mới cho xây dựng cái mà sau này chúng ta gọi là “chùa” để thờ Phật và các tăng nhân tu tập. Kiến trúc xây dựng theo kiểu mẫu dinh thự của quý tộc đương thời. Nhân vì kinh và tượng Phật được thồ về trên lưng ngựa trắng nên đặt tên chùa là Bạch Mã. Tự là chỗ đầu tiên tăng nhân tạm trú khi đến Trung Quốc nên được chuyển sang làm thành tố chính để gọi tên cho ngôi chùa: Bạch Mã Tự, ngôi chùa phật giáo đầu tiên của Trung Quốc. Ngày nay chữ này được dùng đứng sau làm thành tố chính để kết hợp với một từ định danh nào đó (định ngữ) tạo thành một cụm danh từ nêu tên gọi một ngôi chùa cụ thể, như Trấn Quốc Tự, Kim Liên Tự, Bửu Lâm Tự, Vĩnh Nghiêm Tự (Xem: Tạ Đức Tú, “Vì sao gọi là chùa”, https://giacngo.vn).
Già lam là tên gọi tắt của Tăng-già-lam-ma (Sangharama), là một nhóm tăng nhân đi hoằng pháp, thường từ bốn người trở lên. Tăng-già-lam-ma僧伽藍: là nơi ở của các tăng nhân để tu hành, sau chỉ chung kiến trúc ngôi chùa.

Lm. Đỗ Quang Chính, SJ., TẢN MẠN LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VIỆT NAM, Nxb Antôn & Đuốc sáng, Montreal, 2003, tr. 241-242.