Tháng 3 năm 1939, cha Romain Guillauma, một đan sĩ người Pháp, quyết định lập dòng tại Huế, và vẫn duy trì sở Miévelle làm nơi nghỉ chân (sở đất này sẽ bán lại cho các nữ tu Phan sinh vào năm 1954).

Ngày 10-6-1940, thánh lễ đầu tiên được cha Romain cử hành trong ngôi nhà tranh vừa dựng xong gần chân đồi Ðức Mẹ, đánh dấu ngày thành lập Ðan viện Thiên An, trước sự hiện diện của cha Corentin. Cha Romain chọn Thánh Tâm Chúa Giêsu làm quan thầy Ðan viện Thiên An. Nhờ cha Romain được mời đi giảng nhiều nơi, và cha Corentin đi học tiếng Việt ở Loan Lý, nên chẳng những nhiều anh em ở Huế, ở Loan Lý, mà còn ở trong Nam, ngoài Bắc đã tìm đến xin tu. Trong 3 năm đầu mọi người đều sống ở ngôi nhà tranh. Và vào những lúc trời mưa, cóc, nhái, rắn rết thích di tản vào nhà sống chung với người, lắm lúc chui vào tạm trú trong giày dép làm các thân chủ lắm khi phải nhảy đựng lên khi buổi đêm dậy đọc kinh đêm, hay buổi sáng thức dậy xỏ chân ngay vào giày hoặc dép.

Ngày 23-10-1943, làm phép và khánh thành nhà nguyện và ngôi nhà ở 3 tầng, có 28 phòng. Ða số vật liệu xây cất 2 ngôi nhà này được khai thác tại chỗ: đá, gỗ thông và gạch. Hai tầng lầu để ở, còn tầng trệt làm phòng cơm.

Ngày 17-10-1945, cha Benoit Nguyễn Văn Thái được thụ phong linh mục sớm hơn dự định, phòng hờ các cha Tây bị quân Nhật bắt.

Tháng 10-1946, nhà mẹ yểm trợ cho Ðan viện Thiên An thêm 3 linh mục và 3 thầy sáu: Cha Yves (em ruột cha Corentin), cha Arnoul, cha Urbain, thầy Lazare, thầy Raphael và thầy Bède. Từ đây Thiên An có đủ giáo sư để đào tạo đan sĩ giáo sĩ tại chỗ.

Tháng 3 năm 1952, cha Benoit Nguyễn Văn Thái được bầu làm bề trên Thiên An (là bề trên người Việt Nam đầu tiên); năm 1958, cha Anselmô Nguyễn Ngọc Ngãi được bầu làm bề trên; năm 1961 cha Benoit Thái lại được bầu làm bề trên; đến năm 1968, ngài thôi chức bề trên và sau đó khoảng một tháng, ngài bị trúng hỏa tiễn tại Sài Gòn và qua đời ngày 28-5-1968.

Năm 1956, khởi công xây dựng ngôi nhà ở 3 tầng thứ II bằng bê tông. Hai tầng trên có 38 phòng, tầng trệt có 2 phòng lớn, để làm thư viện và phòng hội.

Năm 1965, Ðức Tổng Giám mục Philipphê Nguyễn Kim Ðiền chủ sự lễ làm phép nhà thờ hầm và các bàn thờ đá. Ðây cũng là ngày khánh thành nhà thờ hầm, mừng ngân khánh thành lập Ðan viện Thiên An, lần đầu tiên các đan sĩ không linh mục khấn trọng thể.

Ngày 25-2-1968, biến cố Mậu Thân: Ðan viện Thiên An bị dội bom và pháo kích. Bề trên cho lệnh: "Mạnh ai nấy chạy". Cộng đoàn Thiên An tự động phân nhiều nhóm rời khỏi Ðan viện, rồi qui tụ tại Phú Lương, sau đó vào Ðà Nẵng, tạm trú tại ngôi trường tiểu học của các Soeurs Saint Paul, ở Sao Biển (2 tháng). Trong cuộc chạy loạn này, cha Urbain David và cha Guy Dupont de Compiègne bị mất tích và hơn một tháng sau mới tìm thấy xác.

Tháng 4 năm 1968, cha Thomas Châu Văn Ðằng được chỉ định làm bề trên quản trị thay thế cha Benoit Nguyễn Văn Thái.

Ngày 25-4-1968, Cộng đoàn Thiên An rời Ðà Nẵng trở về Huế, nhưng phải tá túc tại Dòng Kín Huế, vì nhà cửa ở Thiên An bị hư hại nặng, không còn một tấm ngói nào trên mái. Ở Dòng Kín, nhưng ngày ngày vẫn lên Thiên An dọn dẹp và sửa chữa.

Tháng 11-1968, toàn thể cộng đoàn Thiên An "hồi hương". Năm 1969, cha Ta-đê được phái vào Nam, tìm đất lập nông trại để yểm trợ cho Thiên An đang kiệt quệ vì cuộc chiến Mậu Thân. Cha Ta-đê đã kiếm được đất ở Long Thành, ở cây số 47 đường đi Vũng Tàu. Sau này trở thành Ðan viện Thiên Bình, và tự trị từ năm 1988.

Năm 1972, chiến tranh Quảng Trị, "mùa hè đỏ lửa" , Thiên An di tản lần II: Anh em khấn trọng vào Ðà Nẵng dưới sự hướng dẫn của cha Corentin. Kinh viện và Tập viện vào Sài Gòn dưới sự hướng dẫn của cha Thomas Châu Văn Ðằng, bề trên, và cha Marian Phương, tập sư. Ðược bà Cúc hiến một sở đất ở Tam Hà, Thủ Ðức, hai cha bề trên và tập sư liền cho xây dựng nhà cửa với ý định mở một học viện. Sau này trở thành Ðan viện Thiên Phước, được tự trị từ năm 1988.

Tháng 3 năm 1975, cộng đoàn Thiên An di tản vào Ðà Nẵng lần thứ ba, hai tuần sau trở lại Thiên An.

Năm 1984, cha Thomas Châu Văn Ðằng xin từ chức bề trên, và trao quyền cho cha Stéphane Huỳnh Quang Sanh.

Năm 1988, các Ðan viện Biển Ðức Việt Nam, kết thành tỉnh dòng mới, tách khỏi tỉnh Pháp và cha Ta-đê, Bề trên Ðan viện Thiên Bình, được cha Ðan phụ Chủ tịch Denis Huerre chỉ định làm đan phụ Ðan viện Thiên Bình, kiêm chức giám tỉnh dòng Việt Nam.

Năm 1993, cha Stéphane Huỳnh Quang Sanh, bề trên Ðan viện Thiên An được bầu làm giám tỉnh tỉnh dòng Biển Ðức Việt Nam.

Ngày 12-8-1994, khởi công xây cất quần thể kiến trúc bên trên nhà thờ hầm, gồm: nhà tĩnh tâm, nhà nguyện và tháp chuông.

Tháng 4 năm 1998, cha Stéphane Huỳnh Quang Sanh được bầu làm Ðan phụ.

Ngày 27-8-1998, lễ Chúc phong Ðan phụ cho cha Stéphane Huỳnh Quang Sanh, đồng thời khánh thành nhà nguyện, nhà tĩnh tâm và tháp chuông.

Tính đến ngày 20/2/2001, Ðan viện Thiên An hiện đang có 3 linh mục, 13 đan sĩ, một số tập sinh và thỉnh sinh. 


Theo Dòng Thánh Tâm Huế
Qua bộ phim "Linh Địa Đức Mẹ: Những nơi Đức Mẹ hiện ra" là những câu chuyện lịch sử mà Đức Mẹ hiện ra tại các quốc gia, trong đó có: Mễ Tây Cơ, Bồ Đào Nha, Ý, Pháp, Bỉ, Nhật, và Việt Nam.



Qua bộ phim "Linh Địa Đức Mẹ: Những nơi Đức Mẹ hiện ra" là những câu chuyện lịch sử mà Đức Mẹ hiện ra tại các quốc gia, trong đó có: Mễ Tây Cơ, Bồ Đào Nha, Ý, Pháp, Bỉ, Nhật, và Việt Nam.

Bộ phim lịch sử Linh Địa Đức Mẹ gồm 10 tập phim, hai tập đầu của bộ phim giới thiệu sơ về phần Công Giáo và Đức Mẹ, tám tập kế tiếp là phim tài liệu lịch sử của 10 nơi Đức Mẹ hiện ra đã được Toà Thánh Vatican công nhận.

Nhà sản xuất: Trúc Hồ | Giọng đọc: Bích Châu | Quay phim: Vũ Trần
Kịch bản: Bích Trâm Vũ Trần | Dựng phim: Vũ Trần | Đạo diễn: Vũ Trần

Thánh nữ Faustina Kowalska sinh ngày 25/8/1905 ở Glogowiec, nước Ba Lan và qua đời tại Cracovia năm 1938, lúc mới có 33 tuổi. Faustina là con thứ 3 trong đại gia đình gồm 10 anh chị em của một gia đình nông dân rất sùng đạo. Lúc 16 tuổi, Faustina làm việc trong những gia đình khá giả. Năm 20 tuổi, Faustina xin vào tu tại Dòng các Nữ tu Đức Trinh Nữ rất thánh, Mẹ của Lòng Thương Xót. Từ nhỏ Faustina đã nổi bật về đức tin, lòng mộ đạo và sự vâng lời. Faustina thường lặp đi lặp lại lời này: “Nơi Chúa Giêsu có tất cả sức mạnh của tôi.”


Thánh nữ Faustina Kowalska sinh ngày 25/8/1905 ở Glogowiec, nước Ba Lan và qua đời tại Cracovia năm 1938, lúc mới có 33 tuổi. Faustina là con thứ 3 trong đại gia đình gồm 10 anh chị em của một gia đình nông dân rất sùng đạo. Lúc 16 tuổi, Faustina làm việc trong những gia đình khá giả. Năm 20 tuổi, Faustina xin vào tu tại Dòng các Nữ tu Đức Trinh Nữ rất thánh, Mẹ của Lòng Thương Xót. Từ nhỏ Faustina đã nổi bật về đức tin, lòng mộ đạo và sự vâng lời. Faustina thường lặp đi lặp lại lời này: “Nơi Chúa Giêsu có tất cả sức mạnh của tôi.”
Trong 13 năm sống trong Dòng, Faustina đã được nhiều ơn mặc khải và thị kiến (visions). Ngày 22/2/1931, trong lúc ở tại tu viện ở Crakow, chị đã thị kiến Chúa Giêsu hiện ra với chị, và yêu cầu chị thực hành ngày Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa. Chị thấy Chúa Giêsu trong phẩm phục màu trắng với một tay chúc lành,còn tay kia chỉ vào tim của Chúa. Tấm hình đã được vẽ lại và loan truyền đi khắp thế giới. Sau những lần mạc khải, nữ thánh Faustina đã ghi chép lại rằng Chúa Giêsu yêu cầu lần chuỗi kính Lòng Thương Xót Chúa, để cầu cho người mắc tội trọng và cũng có thể khấn xin ơn riêng cho mình. Vào ba giờ chiều mỗi ngày, hãy cầu nguyện cho kẻ có tội cùng tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu, vì Chúa cũng đã sinh thì trong giờ này.
Trong cuốn nhật ký "Lòng Thương Xót Chúa Trong Linh Hồn Tôi" chị Faustina viết: “Buổi chiều khi đang ở trong phòng, tôi bỗng thấy một thị kiến: Chúa hiện ra trong trang phục màu trắng, bàn tay mặt giơ lên như để chúc lành, bàn tay trái áp nơi con tim, từ nơi đó phát xuất hai luồng ánh sáng, một luồng đỏ và một luồng trắng. Tôi im lặng nhìn chằm chặp vào Chúa. Tâm hồn tôi dâng lên một nỗi sợ hãi, nhưng đồng thời với một niềm vui sướng khôn tả. Sau đó, Chúa Giêsu nói với tôi : “Con hãy họa một bức ảnh giống như con đã thấy, kèm theo chữ "Lạy Chúa Giêsu, con tin tưởng nơi Ngài". Ta hứa rằng linh hồn nào tôn sùng Ta qua hình ảnh này- sẽ không bị hư mất. Ta cũng hứa sẽ cho họ được chiến thắng những kẻ thù của họ trên trái đất này, đặc biệt là trong giờ chết. Ta sẽ bảo vệ họ như chính bảo vệ vinh quang của Ta. Ta sẽ hiến dâng nhân loại một nguồn mạch mà từ đó tuôn ra những ân sủng của Lòng Thương Xót. Nguồn mạch đó là bức ảnh này và dòng chữ: “Lạy Chúa Giêsu, con tin tưởng nơi Ngài“. Ta mong mỏi bức ảnh này phải được tôn sùng đầu tiên trong nhà nguyện của con, sau đó trên toàn thế giới “